By DALLOLS payday loans

phapnanbatnha.net

Sunday
Jun 25th
Text size
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Ý kiến Xã hội Sự Tồn Tại của Tăng Thân Làng Mai Việt Nam tại Bát Nhã và Trên Đất Nước là Ý Muốn của Dân

Sự Tồn Tại của Tăng Thân Làng Mai Việt Nam tại Bát Nhã và Trên Đất Nước là Ý Muốn của Dân

Email In PDF.

LeXuatGiaCayTramHuongPháp Nạn Bát Nhã vẫn còn tiếp diễn và an ninh tôn giáo vẫn âm thầm chỉ đạo công an địa phương và các thầy Đồng tiếp tục tạo khó khăn, áp lực đối với 400 tu sinh trẻ tại Bát Nhã. Cho đến nay 400 tu sinh tại tu viện Bát Nhã vẫn chưa có điện, nước, điện thoại…, trong khi đó BTSPGTW đã khẩn thiết đề nghị chính quyền địa phương nối lại điện nước cho các tu sinh sinh hoạt hơn cả tháng nay. Người ta chưa cần biết thực hư thế nào về vụ việc Bát Nhã, nhưng nhìn thấy cách hành xử của chính quyền đối với bốn trăm mạng sống tại Tu Viện Bát Nhã thì đủ thấy quá phi lý, phi lý đến độ nó lộ ra cái bộ mặt của một chế độ độc tài, bá quyền của đảng cộng sản Việt Nam. Chính quyền địa phương lấy lý do là vì ông chủ hộ tu viện Bát Nhã yêu cầu cúp điện, nước… nên họ phải làm theo yêu cầu của vị chủ hộ. BTSGHPGTW đã đề nghị với chính quyền nối lại điện nước cho 400 tu sinh hiện đang cư trú tại Bát Nhã để họ có tiện nghi sinh hoạt tối thiểu như một người con dân Việt Nam, thế mà cho đến nay họ vẫn chưa nối lại điện nước. Với tư cách của một tổ chức TW Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đã đề nghị như thế, nhưng lại không bằng một ông thầy Đồng Hạnh vốn không có vị thế gì trong Giáo Hội mà chính quyền lại nghe theo sự yêu cầu của ông ấy. Vậy luật pháp của Nhà nước về vấn đề bảo vệ nhân quyền của Việt Nam đối với người dân nằm ở đâu? hay nó chỉ là vấn đề nằm trên chữ nghĩa để hoa mắt người dân mà thôi? và đâu là quyền hạn thực sự của Giáo Hội? Việc làm như thế của chính quyền chứng tỏ

- Thứ nhất: Giáo Hội không có một ki lô nào (không có chủ quyền) trong vấn để giải quyết vụ việc Phật giáo, điều này vô hình chung đã làm cho hàng triệu Phật tử mất niềm tin đối với chư tôn giáo phẩm trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam;

- Thứ hai nó đã chứng minh một cách quá rõ rằng GHPGVN chỉ là cơ quan được Nhà nước lập ra để quản lý các sinh hoạt Phật giáo. Phía An ninh tôn giáo luôn nói rằng họ không bao giờ can thiệp vào vấn đề nội bộ tôn giáo, thế nhưng qua cách làm việc của chính quyền đối với vấn đề Bát Nhã, Ban Tôn Giáo Chính Phủ, Công an tôn giáo, Mặt trận đã cho thấy họ thọc tay quá sâu vào vấn đề sinh hoạt nội bộ tôn giáo trong khi đó vấn đề nội bộ Phật giáo lẽ ra phải để cho GH đứng ra giải quyết theo tinh thần giới và luật của nhà Phật mới đúng và chính quyền phải tuyệt đối tôn trọng. Nhưng đằng này chính quyền đã nhiều lần phủ nhận cách giải quyết của GH và bắt ép chư tôn đức trong GH phải đi theo sự chỉ đạo của Ban Tôn Giáo Chính Phủ, an ninh tôn giáo…

Ai cũng thừa biết là từ xưa đến nay khi Đảng cộng sản Việt Nam lên nắm quyền thống trị đất nước, mặc dầu họ có đầy quyền lực nhưng họ luôn luôn sống trong sự sợ hãi - sợ bị lật đổ và đối tượng đáng e ngại nhất đối với họ là Phật giáo. Nhớ lại thời thập niên 63, chế độ Ngô Đình Diệm đã dùng mọi thủ đoạn để đàn áp, tiêu diệt Phật giáo, nhưng họ không thành công, vì giới Phật tử chiếm tỷ lệ đến 70 % dân số. Dù thế sự đổi thay, dù đất nước biến động, dù đất nước bị giày xéo bởi những ý thức hệ cộng sản, tư bản, thì niềm tin của người Phật tử đối với Tam Bảo là bất di bất dịch, là năng lực thiêng liêng bất khả xâm phạm, chà đạp, tước đoạt. Sự thất bại của chế độ độc tài ông Diệm với ý đồ muốn tiêu diệt Phật giáo để đưa Công Giáo lên vị trí Quốc Giáo đã không thực hiện được là vì hàng triệu, hàng chục triệu người con Phật trong nước đã đồng sức đứng lên tranh đấu đối với sự đàn áp tàn nhẫn, phi lý của chế độ để đòi lại tự do cho Phật giáo của mình. Và chư Tôn Thiền Đức, Phật tử đã tranh đấu bằng tinh thần bất bạo động, bằng sức mạnh tâm linh - lấy tình thương để đáp lại hận thù, sợ hãi, bạo hành và vô minh. Điều đó đã làm chấn động cả nhân loại trên thế giới và đánh thức được lương tri của con người. Trái tim bất diệt của Hòa Thượng Quảng Đức là minh chứng cho giai đoạn lịch sử đau thương của Phật giáo mà tất cả mọi người trên thế giới kể cả những người trẻ Phương Tây sinh sau thời 63 đều biết đến và đó là bài học muôn đời cho mọi người.

Vụ đàn áp Phật giáo của ông Diệm đã khiến cho chính quyền Việt Nam sau khi nắm quyền đã dựng lên một hình nộm mang danh nghĩa là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam để quản lý toàn bộ sinh hoạt của Phật Giáo để khỏi bị dân chúng Phật tử và dư luận quốc tế chỉ trích, phê bình về vấn đề tự do tôn giáo. Những vị có chức sắc trong giáo hội phần đông là những công cụ (hay đúng hơn là do họ cài vào dưới hình tướng nhà sư) làm việc cho chính quyền, cho Ban Tôn Giáo Chính Phủ. Chủ trương của Đảng là không tiêu diệt Phật giáo như chế độ Ông Diệm, họ vẫn để cho Phật giáo tồn tại, nhưng phải tồn tại dưới sự kiểm soát, quản lý của họ, phải tồn tại một cách ngáp ngáp như cá thiếu nước vậy thôi, nghĩa là không để cho tín đồ Phật giáo sinh hoạt trong tinh thần đoàn kết; mặc dầu Nhà nước luôn đề cao sự đại đoàn kết của dân tộc, nhưng chính họ lại là nhân tố gây chia rẽ sự đoàn kết của dân tộc. Do đó trong hơn 30 năm qua từ khi họ nắm quyền, họ đã thành công trong việc quản lý con người, cách ly thế hệ trẻ đối với các sinh hoạt mang tính tôn giáo, cản trở Phật tử đến chùa chiền, tự viện tham dự các lễ lớn bằng các sinh hoạt của nhà trường như tổ chức sinh hoạt trại học sinh, sinh viên, thi cử cùng ngày với các ngày lễ lớn. Những bậc cao tăng cũng bị họ cưỡng bức, thủ tiêu hoặc làm cho họ sa vào mỹ nhân kế để dễ dàng khống chế, sai khiến… Như vậy họ đã và đang núp sau cái sân khấu là GHPGVN để điều khiển các con rối đi đúng theo chính sách của đảng, nếu kẻ nào làm sai lệch thì sẽ bị xiết chặt hoặc nếu cần thì dấn chìm và thay vào những con rối khác ngoan ngoãn hơn. Họ mượn bộ mặt GHPGVN để hoa mắt thiên hạ để cho thiên hạ biết rằng Nhà nước luôn luôn tôn trọng và có có chính sách cởi mở đối với vấn đề tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Nhưng khi cần xiết chặt các sinh hoạt tôn giáo mà họ cho là đi ngược với đường lối, chủ trương của đảng và có nguy hiểm cho vấn đề an ninh quốc gia, thì họ nhân danh GH để cưỡng ép mà không cần đích thân ra tay để khỏi phải mang tiếng với quốc tế, với dân. Và vụ việc Bát Nhã đã xảy ra theo kế sách ấy.

Nhưng họ không thể che lấp được sự thật vì những gì đã và đang xảy ra tại tu viện Bát Nhã đã chứng minh cho dân chúng Phật tử trong cũng như ngoài nước và dư luận quốc tế thấy rằng Việt Nam vẫn chưa thật sự có tự do tôn giáo. Hơn một năm qua tại tu viện Bát Nhã, 400 tu sỉ trẻ đã liên tục bị đàn áp, kiểm soát, cấm không cho mở khoá tu, cấm không cho Phật tử đến tu tập trong những ngày cuối tuần đầu tháng, ép các thầy sư cô ký vào biên bản cấm mở khoá tu tại Bát Nhã, cấm thuyết pháp và mở khoá học dù là lớp tu học cho nội chúng, và hơn một tháng qua 400 tu sĩ trẻ ấy vẫn sống trong tình trạng không điện nước, không lương thực. Chính quyền luôn hăm he lấy cớ là ông chủ hộ không bảo lãnh để giải tán 400 tu sĩ ấy khỏi Bát Nhã - đồng nghĩa với tiêu diệt họ. Vẫn tiếp tục cúp điện, nước là để cho các tu sĩ này nản chí mà tự động rời khỏi Bát Nhã hoặc để phụ huynh của các vị tu sĩ này lo lắng mà đem con em mình về nhà. Trong một năm qua, các công an, an ninh mặt trận đã đến gõ cửa từng nhà của các thầy, sư chú và sư cô đang tu học ở Bát Nhã để hù doạ, khủng bố và bức ép các phụ huynh của các thầy, sư chú, sư cô ấy đem con về.

Ý đồ muốn tiêu diệt, giải tán Bát Nhã quá rõ ràng. Nhưng Bát Nhã không thể tiêu diệt được vì Bát Nhã đã trở thành một biểu tượng của hàng triệu, hàng chục triệu người Phật tử trong cũng như ngoài nước. Mọi người trong cũng như ngoài nước dù là Phật tử hay không Phật tử đều ngày đêm hướng về Tu Viện Bát Nhã như một biểu tượng tâm linh, như một nguồn sống đạo đức, giải thoát và yêu thương cho chính họ, cho con em của họ và cho sự lành mạnh của nền văn hoá đạo đức đất nước và cho nhân loại. Bát Nhã là gia sản đạo đức tâm linh của dân tộc, là niềm tin của hàng triệu, triệu người trong nước cũng như ngoài nước. Bốn trăm vị tu sĩ trẻ ấy qua bao nhiêu thử thách, khó khăn họ thể hiện cho Phật tử khắp nơi biết rằng họ là những người chân tu - sống trong tinh thần bất khuất, vô úy và bất hại trước mọi bạo lực bất công, họ đã tạo niềm tin vững chãi nơi hàng triệu người Phật tử và không Phật tử trong và ngoài nước đối với Tam Bảo, với chánh pháp. Cho nên tiêu diệt Bát Nhã đồng nghĩa với tiêu diệt niềm tin trong lòng Phật tử đối với Tam Bảo và điều này sẽ tạo ra nhiều sự uất ức, bức xúc và thù hận trong lòng Phật tử đối với Đảng, Nhà nước và chính quyền; cũng như chính phủ ông Diệm đã đàn áp và tiêu diệt Phật giáo và hậu quả bi thương không ai mà không biết. Chính quyền không nên khờ dại lập lại sự sai lầm của ông Diệm, vì làm như thế chỉ khơi lại nỗi đau năm xưa trong lòng Phật tử và sẽ tạo thêm ác cảm trong lòng người Phật tử đối với Nhà nước mà thôi. Bị cướp của, bị giết, bị đánh đập, bị chà đạp, lạm dụng, lường gạt chưa phải là cái khổ lớn nhất, mà cái khổ lớn nhất chính là khi niềm tin của mình bị bóp chết, bị tước đoạt. Niềm tin nguồn năng lực giúp con người hoá giải được nhiều vấn đề nhân sinh của cuộc đời, giúp con người vượt thoát được cái khổ của sinh tử, đạt tới được hạnh phúc chân thật vượt ngoài thứ hạnh phúc ảo mộng, phù du như quyền hành, danh lợi…

Giải tán 400 tu sĩ tại Bát Nhã là điều bất lợi và không thể thực thi vì Bát Nhã đã trở thành một biểu tượng, đã trở thành niềm tin của hàng triệu Phật tử và thiền sinh quốc tế. Theo tôi, nếu chính quyền cứ hăm hở giải tán 400 tu sĩ tại Bát Nhã thì đó là ý tưởng không mấy sáng suốt và sẽ mang lại nhiều hậu quả bất lợi nghiêm trọng cho đất nước, tạo thêm niềm uất ức, thù hận trong lòng dân như đối với chế độ ông Diệm ngày xưa. Hoàn toàn bất lợi.

Đất nước chúng ta đã hội nhập vào WTO, chúng ta phải khéo léo hành xử để tránh tai tiếng với dân và dư luận quốc tế và tạo hứng khởi và niềm tin cho các bạn láng giềng trên thới giới đi vào để hợp tác kinh doanh đưa đất nước đi lên. Nhưng xây dựng đất nước trở nên hùng mạnh, giàu có không phải chỉ bằng lĩnh vực kinh tế mà phải có nếp sống đạo đức tâm linh, Phật giáo từ xưa đã đóng vai trò lãnh đạo tâm linh cho dân tộc. Mong lắm thay.

Tôi tin nơi sự sáng suốt và tinh thần cởi mở của các vị trong các cấp lãnh đạo chính quyền. Chúng ta đang ở trong thời đại toàn cầu hoá rồi chứ không còn như thời bao cấp nữa, do đó đường lối nhận thức, tư duy và phương cách lãnh đạo, làm việc cũng cần phải thay đổi để cho phù hợp với nhu yếu mới. Muốn cho dân giàu, nước mạnh thì phải biết hợp tác làm ăn với các nước láng giềng mà điều kiện tiên quyết để thực hiện dễ dàng sự đối tác là đất nước phải có tự do nhân quyền, tự do tôn giáo.

Chính quyền nào cũng có ưu điểm và khuyết điểm, nhưng một chính quyền mà biết làm việc đúng nghĩa thì sẽ đem lại cho dân nhiều an vui, hạnh phúc, họ luôn cảm thấy thoải mái, tự do đi lại ở bất cứ đâu mà không bị theo dõi, kiểm soát. Một chính quyền làm việc có chính nghĩa thì phải biết lấy ý muốn của dân làm ý muốn của mình, thế mới đắc nhân tâm. Vua Trần Thái Tông đã làm như thế. Ngài thương dân như thương yêu con đẻ của mình vì vậy mà dân rất yêu thương Ngài, dân biết sống trong tinh thần đoàn kết nên đã tạo dựng được một đất nước thật sự thái bình, dân chúng yêu thương và giúp đỡ nhau. Tù nhân được chùa bảo lãnh để tu luyện, chuyển hoá và hoàn thiện bản thân. Thật đẹp biết bao. Thiết nghĩ sự tồn tại của tăng thân tu học theo pháp môn Làng Mai trong nước trong đó có Tu Viện Bát Nhã đã không còn là ý muốn riêng 400 tu sĩ ấy nữa mà nó đã trở thành ý muốn của dân, nhất là của hàng triệu giới Phật tử. Các thầy và các sư cô trẻ tuy mới tu nhưng sự tu tập của họ đã tạo niềm tin cho dân chúng Phật tử, đã giúp hàng ngàn, hàng triệu người tu tập, chuyển hoá và tìm lại được chân hạnh phúc trong thế giới quay cuồng đầy hận thù, bạo động, chia rẽ, tệ nạn, gia đình đỗ vỡ v.v… này. Do đó không những chỉ ở Bát Nhã mà trên khắp ba miền Bắc, Trung, Nam đều phải có các tu viện như tu viện Bát Nhã được dựng lên để làm nơi nương tựa cho hàng triệu người Phật tử cũng như không Phật tử đến để tu học chuyển hóa, tìm lại niềm an vui, hạnh phúc của nội tâm.

Phật tử Nguyên Phúc


phapnanbatnha.net | 07.08.2009