By DALLOLS payday loans

phapnanbatnha.net

Sunday
Jun 25th
Text size
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Ý kiến Xã hội Giây phút đau lòng

Giây phút đau lòng

Email In PDF.

Hằng năm cứ đến độ sắp sửa đón giao thừa, Sư Ông Làng Mai thường cho đại chúng nghe một buổi đọc thơ và bình thơ của những nhà thơ nổi tiếng trong quá khứ mà cho đến nay vẫn còn được mọi người ngưỡng mộ. Đây là một dịp đặc biệt nhất trong năm, vì Sư Ông không cho pháp thoại mà chỉ nói là thầy trò ngồi chơi với nhau. Trong buổi đọc thơ cuối năm như vậy thường có chứa những lãng mạn rất đời của những thi sĩ,  rồi sau đó Sư Ông cũng cho chúng ta nếm những hương vị giải thoát của đạo.

Có một lần vào đêm giao thừa Canh Thìn – Tân Tỵ Sư Ông đã đọc bài thơ Giây phút chạnh lòng của Thế Lữ, một nhà thơ nổi tiếng trong Tự Lực Văn Đoàn vào thời tiền  chiến. Bài thơ này Thế Lữ đã viết năm 1936 để tặng cho tác giả cuốn tiểu thuyết Đoạn tuyệt là Nhất Linh. Ở đây tôi muốn nói đến tựa đề Đoạn tuyệt mà ông Nhất Linh đã gởi gấm trong đó. Đoạn tuyệt là dứt bỏ, xa lìa những gì xấu xa của một thế hệ.

Trong dịp này Thiền sư đã kể lại bối cảnh lịch sử của Việt Nam thời đó, thời còn bị thực dân Pháp đô hộ. Đất nước không có độc lập, không có tự do và tất nhiên là người dân không có hạnh phúc. Sư Ông nói: (trích dẩn) Đất nước hồi đó còn nằm dưới sự đô hô của người Pháp. Những người thanh niên Việt Nam lớn lên bắt đầu có ý thức ràng đất nước mình không phải là một đất nước độc lập cho nên tâm tư họ có những xao xuyến, thao thức: làm thế nào cho đất nước mình được độc lập, tự mình làm chủ lấy mình?

Trong khi đó guồng máy công an cảnh sát dưới sự cai trị của người Pháp rất hùng hậu, rất vững mạnh. Họ tìm mọi cách cho người Việt không có cơ hội đứng dậy để dành lại chủ quyền cho đất nước mình. Nhưng những thanh niên tân học thấy rõ ràng rằng: người dân của một nước mà không làm chủ được đất nước của mình là chuyện rất nhục nhã, không những đối với quốc dân trong giờ phút hiện tại mà còn đối với tổ tiên của mình; tại vì tổ tiên của mình cũng đã từng tranh đấu để quốc gia có chủ quyền, có độc lập. Trong quá khứ có lần Trung quốc chiếm cứ đất nước Việt Nam đến một ngàn năm. Việt Nam đã trở thành lãnh thổ, một tỉnh của Trung quốc. Việt Nam trong thời ấy hoàn toàn bị mất chủ quyền đối với người Trung quốc (hết trích).

Đứng trước tình trạng đất nước đen tối như vậy, có những người thanh niên đã lựa chọn con đường đi làm cách mạng, đi kháng chiến để cứu đất nước ra khỏi màn đêm tăm tối đó. Cũng có những người chủ trương làm văn hoá, nâng cao trình độ dân trí để đưa dân tộc và đất nước đi lên. Đó là nhóm Tự Lực văn đoàn. Ngoài ra còn có thêm một tạp chí Phật học tên là Đuốc Tuệ do hội Phật Giáo Bắc Kỳ xuất bản. Tờ Đưốc Tuệ có những bài viết về Nhân gian Phật Giáo, tức là những đề tài về Phật Giáo đi vào cuộc đời. Hạt giống của Đuốc Tuệ rất mạnh và đã ăn sâu vào tiềm thức của người thanh niên trẻ thời đó. Người thanh niên đó sau này là Thiền sư Nhất Hạnh: (trích dẫn) Tờ Đuốc Tuệ có nói đến các thiền sư trong quá khứ, đến những công việc mà các vị thiền sư làm để giúp dân giúp nước. Điều này cho tôi (Thiền sư Nhất Hạnh) thấy rằng, đạo Phật có thể đóng một vai trò rất lớn để xây dựng đất nước và cứu độ con người. Đây là một con đường khác để phục vụ đất nước, nó đã mở ra cho tôi một chân trời mới rất là rộng (hết trích).

Những lời nói trên đây cho chúng ta thấy rằng: thay vì làm cách mạng hay chính trị, Thiền sư chỉ muốn đem đạo Phật đi vào cuộc đời, dùng từ bi và tình thương để chuyển hoá những năng lượng tiêu cực, giúp cho đời, giúp cho người có thêm hạnh phúc. Một hạnh phúc thực sự do tu tập theo chánh Pháp, không dựa trên những hạnh phúc tạm bợ nhất thời như: tiền tài, tham vọng, ham muốn hay quyền lực.

Nếu nhìn sâu vào bối cảnh, chúng ta thấy rằng một vị sư già trên 80 tuổi, tu đã chứng đạo thì làm sao còn tham sân si hay là tham vọng để đi làm chính trị. Suốt cuộc đời tu hành lúc nào cũng  kêu gọi hoà bình, muốn cho mọi người hiểu và  thương nhau. Chỉ vì Thiền sư theo truyền thống Đại thừa,  trong truyền thống này có một giới gọi là Bồ Tát giới. Người tu theo giới này không những tu cho mình mà còn phát tâm cứu độ chúng sinh, làm sao giúp cho cuộc đời bớt khổ. Thấy những gì sai trái trầm luân mà không đứng ra cứu vớt thì không còn ý nghĩa của Bồ Tát giới nữa.

Rời xa đất nước gần bốn mươi năm, Thiền sư lúc nào cũng nuôi một hoài bảo là làm được điều gì để giúp cho đất nước đi lên. Sau bao nhiêu khó khăn về thủ tục và điều kiện để được chiếu khán, Thiền Sư về lại được Việt Nam vào năm 2005. Trong đêm giao thừa tại chùa Pháp Vân ở Tân Phú, Thiền sư có nói rằng: ngày ra đi tôi là một tế bào, bây giờ tôi về là một tăng thân. Sự thành công trong việc xây dựng tăng đoàn quốc tế Làng Mai đã khiến cho Thiền sư cũng muốn xây dựng một tăng thân như vậy tại Việt Nam.

Qua chuyến hoằng Pháp của Thiền sư từ Nam chí Bắc vào mùa xuân năm đó đã đem lại một luồng gió mới cho đạo Phật nói riêng và cho nước Việt Nam nói chung. Một làn gió xuân dịu dàng tươi mát. Những Pháp môn khi thực tập thì có hạnh phúc liền trong giây phút. Những giận hờn, khổ đau, truyền thông bế tắc được chuyển hóa và giải tỏa. Những phương pháp hành trì mới mẻ này đã làm cho mọi giới ưa thích và nhất là giới trẻ. Trong quyển Tuổi trẻ tình yêu lý tưởng cũng được xuất bản trong chuyến về Việt Nam này. Trong đó Thiền sư đã gởi gấm rất nhiều tâm huyết của mình cho tuổi trẻ Việt Nam. Tác phẩm này đã được giới trẻ Việt Nam đón nhận và hưởng ứng nồng nhiệt.

Từ những duyên lành đó mà Pháp môn Làng Mai được giới trẻ ở Việt Nam ưa thích. Nếu ai đã từng dự những khóa tu vài ngày do Thiền sư hướng dẩn, phần đông đã học hỏi được những pháp môn thích hợp cho hoàn cảnh của mình, để về nhà hành trì và chuyển hoá.

Xuatgia-Honggion2Đạo Phật có một đặc tính rất uyển chuyển là đi đến đâu cũng hoà nhập với phong tục và tập quán ở nơi đó. Có những Pháp môn mới thích hợp với hoàn cảnh mới. Vì thế nên khi Pháp môn Làng Mai về Việt Nam chưa chắc gì trong tương lai nó sẽ mãi mãi hoàn toàn giống như ở Làng Mai. Có điều chắc chắn là những cốt tuỷ của Pháp môn phải còn. Thí dụ như: Đạo Phật đi vào cuộc đời, hiểu và thương, bốn chúng cùng đi như một dòng sông, đi thiền hành, sống chánh niệm v.v... Nhất là những nghi lễ có thể hoà nhập với nhau để được hành trì tuỳ trường hợp và tuỳ nơi. Tôi nói ra đây vì biết rằng có rất nhiều thầy cô theo pháp môn Tịnh Độ từ Việt Nam qua sống và tu tập ở Làng Mai.  Tôi về Việt Nam đi thăm lại quí thầy mà tôi đã được quen biết trước đây. Được quí thầy chia sẻ: về lại đây đi cúng tế, làm đám cho Phật tử nhiều lắm. Nhưng sau đó lại tu tập và hành trì theo Pháp môn Làng Mai. Tôi nói lên điều này là muốn trình bày lên quí vị Tôn túc tại Việt Nam yên tâm rằng: Pháp Môn Làng Mai sẽ và chỉ làm phong phú thêm cho kho tàng Phật giáo ở quê nhà. Những gì cổ hũ sẽ biến mất và những gì tốt đẹp sẽ được bồi đắp vào. Những lời Phật dạy và kinh điển thì ngàn năm vẫn thế. Nhưng lễ nghi cúng bái và tục lệ là do người đời sau đặt ra và truyền lại, do đó rất có thể sẽ chuyển đổi theo thời gian để thích hợp cho hoàn cảnh mới, nhất là không bị lão hoá dễ cho giới trẻ hưởng ứng và Đạo Phật ngày càng tươi mát hơn trên quê hương Việt Nam.

Gia đình tâm linh Bát Nhã vì thế đã được thành hình. Nếu bậc cha mẹ có những đứa con huyết thống, thì sư phụ trong  chùa có những đệ tử là những người con tâm linh. Cha mẹ nuôi con như thế nào thì những sư phụ cũng nuôi đệ tử của mình như vậy và nhiều hơn nữa.

Sự kết hợp của hai sư phụ là Thiền sư Nhất Hạnh và thượng toạ Đức Nghi cùng dưới sự bảo trợ của GHPGVN đã cho ra đời (vô chùa) những người con tâm linh này. Sự xây dựng tăng thân Bát Nhã đã được nhiều người mến mộ và hưởng ứng. Bằng chứng cho thấy rằng, chỉ trong một thời gian ngắn Tăng thân Bát Nhã đã đạt được con số gần 400 tu sĩ. Những ngày đầu hạnh phúc êm đềm cho đến có một ngày bỗng nhiên sóng gió nổi lên.

Từ đây tôi có thể diễn nghĩa chuyện dài Bát Nhã rất đời như sau:

Người cha Làng Mai cùng với người mẹ là GHPGVN cho ra đời những những người con tại Bát Nhã. Những người con này được một bà vú nuôi là TT Đức Nghi. Bà vú này lúc đầu muốn được làm vú nuôi nên đưa ra những điều kiện dễ dàng cho người cha Làng Mai. Người cha và bà vú cùng là Phật tử với nhau, nên bà vú nói gì người cha tin vậy. Người cha đi làm lụng vất vã ở xa, có được đồng nào đều gởi về cho bà vú nuôi con. Tiền gởi cho bà vú này bao nhiêu cũng không đủ, vì bà vú này muốn xây nhà riêng càng nhiều càng tốt. Có một điều đáng nói thêm ở đây là bà vú lại có con riêng. Ở trên cỏi đời thường thường có những bà vú thương con của mình giống như con của người nhờ mình nuôi. Người cha Làng Mai lúc đầu cũng tưởng như vậy, vì bà vú nói năng ngọt ngào không chịu được! Nhưng rồi đến một ngày không biết vì lý do nào mà bà vú trở mặt. Bà vú trốn đi và nói rằng: vì người cha làm chánh trị nên tôi không tiếp tục nuôi con của ông nữa. Thực ra người cha chỉ có nói chuyện chánh trị trong lúc trà dư tửu hậu vậy thôi, già cả quá rồi sức đâu mà làm chánh trị. Tiền bạc ngườì cha gởi về để mua nhà cho con ở, đều để cho bà vú đứng tên. Đã nói là tin nhau hết cở mà, vì bà vú lúc đầu vẫn thường nói: con của ông thì cũng như con của tôi thôi.

Bà vú trốn đi và cho con riêng của mình đến đòi nhà, đuổi những người con kia đi. Những người con này ngỡ ngàng hết cỡ. Cứ tưởng tiền của cha mình gởi về xây dựng nhà cho thì mình nên yên chí tiếp tục ở. Người cha bây giờ ở xa, thôi thì đến cầu cứu mẹ của mình là Ban trị sự GHPGVN vậy. Người mẹ này bấy lâu nay lo đi làm chánh trị nên có ngó ngàng gì đến những đứa con của mình đâu. Bây giờ được mấy đứa con gọi đến thì bối rối lắm. Đến hỏi chuyện bà vú thì bà trốn biệt, tìm bao nhiêu lâu mới gặp. Khi hỏi đến chuyện thực hư về tình trạng mấy đứa con ở Bát Nhã thì bà vú ởm ờ, nói rằng: cha của chúng nó làm chánh trị nên tôi đuổi chúng nó đi đó!  Người mẹ nghe nói đến chuyện người cha đi làm chánh trị thì bắt đầu lo: không biết đảng của ông ta có nghịch với đảng của mình không? Sau đó người mẹ bèn đi hỏi những người trong đảng của mình xem họ có ý kiến gì không. Đảng của bà là đảng ta (viết chưa bỏ dấu) nên khi được hỏi đến là dẩy nẩy lên liền: Ngoài đảng này ra, những đảng khác đều là nguỵ, không cần phải hỏi lôi thôi gì hết.

Bà mẹ được trả lời như thế thì buồn lắm. Thôi nhờ bà con hàng xóm là BTSPG tỉnh Lâm Đồng đến thăm hỏi những đứa con của mình xem sao. Nghe nói điện nước đều bị cúp hết. Thức ăn chỉ có mì gói mà còn phải nấu chui. Bà con hàng xóm nghe qua câu chuyện thì rất động lòng, khăn gói đến thăm con cháu của mình. Đến nơi thì bị mấy người con riêng của bà vú mướn du đảng làm dàn chào. Những vị nầy trở thành vùng oanh kích tự do của bọn họ. Điều lạ lùng là công an của nhà nước cũng được mời đến để giử an ninh cho ... bọn du đảng. Ai có can đảm chống lại bọn này là phạm luật ... rừng, sẽ bị bắt bỏ tù. Thế là bà con và hàng xóm bị một trận bom thối tan nát ra về (loại bom này ngày xưa Mỹ cũng chưa dám bỏ ở Việt Nam).

 

Từ khi đảng nghe nói là người cha của mấy đứa con ở Bát Nhã làm chánh trị, bèn dùng áp lực với đảng viên của mình là bà mẹ. Chỉ nghe nói thôi mà không cần bằng chứng. Vì đảng ta có đức tin của Tào Tháo nên: thà phụ người chớ đừng để người phụ ta. Câu chuyện đến đây tôi cảm thấy hình như bà vú cũng cùng một đảng với bà mẹ. Đảng nói với bà mẹ: cha của chúng nó làm chánh trị, chắc chúng nó cũng làm chánh trị thôi, cha nào con nấy mà! Ngày xưa Tào Tháo nghi là giết hết cả nhà, bây giờ mình nghi, mình chỉ đuổi chúng nó đi thôi, vẫn còn nhân đạo chán chê. Thế là bà mẹ được lệnh của đảng phải đuổi mấy đứa con ở Bát Nhã đi. Những người con có van xin than khóc, bà cũng lạnh lùng như băng tuyết. Đối với bà, danh lợi và địa vị là trên hết.

Tôi kể câu chuyện diễn nghĩa như trên để chúng ta thấy rằng, nếu đó là chuyện ngoài đời thì cũng đủ làm cho chúng ta đau lòng rất nhiều. Đây lại là chuyện xảy ra ở chốn tu viện. Một người tu nếu vì một lý do gì đó mà phải hoàn tục, những bạn đồng tu sẽ cho rằng người đó đã chết. BTS GHPGVN đứng ra đuổi những người con tâm linh của mình tại Bát Nhã, cũng giống như người mẹ giết đi những đúa con ruột thịt của mình. Những người con này lại hiền ngoan hết mực, tu tập rất tinh tấn, mặc dù tuổi đời và tuổi đạo còn rất ít.

Nếu lập luận rằng tu sĩ tại tu viện Bát Nhã là tu sĩ của Làng Mai thì hoàn toàn không đúng nữa. Những vị giáo thọ của Làng Mai có quốc tịch nước ngoài đều đã ra đi. Bây giờ chúng ta phải gọi những vị tu sĩ này là Tăng thân Bát Nhã, tu tập theo Pháp môn Làng Mai. Những vị này hoàn toàn là tu sĩ người Việt và được hưởng hoàn toàn qui chế của những người tu sĩ Việt Nam.

Tôi xin trích dẫn những lời cầu xin khẩn thiết dưới đây của những vị tu sĩ tại Tu viện Bát Nhã. Giây phút mà những vị tu sĩ này phải rời tu viện Bát Nhã sẽ là giây phút đau lòng nhất lịch sử Việt Nam. Trang sử của Phật Giáo Việt Nam sẽ có những dòng đen tối nhất kể từ khi Đạo Phật được du nhập vào đây.

Nguyên Như