By DALLOLS payday loans

phapnanbatnha.net

Wednesday
Jun 28th
Text size
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Ý kiến Bài được quan tâm Từ Bát Nhã đến Phước Huệ -Kể về những sự việc đau thương xảy ra cho Tăng Ni tại Bảo Lộc, Lâm Đồng

Từ Bát Nhã đến Phước Huệ -Kể về những sự việc đau thương xảy ra cho Tăng Ni tại Bảo Lộc, Lâm Đồng

Email In PDF.
Chỉ mục bài viết
Từ Bát Nhã đến Phước Huệ -Kể về những sự việc đau thương xảy ra cho Tăng Ni tại Bảo Lộc, Lâm Đồng
Nỗi đau xé lòng
Con đường không đứt đoạn
Ra đi trong đêm
Phần 4: Gối Nhẹ Mây Đầu Núi.
Tình huynh đệ bao la - phần 3
Ngồi yên trong mưa - phần 2
Tiếng chim báo bão - phần 1
Tất cả các trang

Phần 10 : Tan tác cánh chim non

Có thể ngày mai

Trước khuôn mặt bạo tàn

Một mình em đối diện

Hãy rót cái nhìn dịu hiền từ đôi mắt

Hãy can đảm dù không ai hay biết

Và nụ cười em

Hãy để nở trong cô đơn

Trong đau thương thống thiết

Những người yêu em

Dù lênh đênh qua ngàn trùng sinh diệt

Vẫn sẽ nhìn thấy em.

(“Dặn Dò” - Thơ Từng Ôm và Mặt Trời Từng Hạt - Nhất Hạnh)

Mấy buổi chiều này Bảo Lộc mưa tầm tã, những cơn mưa trái mùa… Cùng nỗi lòng với anh chị em chúng tôi, đất trời khóc đưa tiễn biệt! Bác Phật tử thường hay tới chùa ngậm ngùi nói: “Trời khóc thương quý thầy quý cô đó…” Ôn Trụ Trì bâng khuâng, ngó mông lung ra ngoài: “Mùa này đâu có mưa lớn như vậy, trời khóc cho Thầy, trời khóc cho các con đó chứ..!” Hôm trước thầy Phong Thuấn, thầy Minh Sang phải đi tìm sư cô Phước Tâm đề nhờ may lại cái áo nhật bình bị xé rách. Các sư chú cũng phải nhờ các sư cô mạng lại tấm Y, khâu lại chiếc áo. Thầy dạy các thầy các sư chú có thể nhờ các sư cô may áo với điều kiện phải làm việc đó một cách công khai trước mặt mọi người. Các anh chị em tôi đã đi qua chung với nhau biết bao là khó khăn tủi nhục, đã thương nhau như ruột thịt thâm tình. Chúng tôi thực tập không thương riêng một ai. Thầy đó, sư cô đó đáng bằng tuổi Ba mình, Mẹ mình thì mình thương yêu và kính trọng như Ba Mẹ. Sư anh, sư chị đó đáng bằng tuổi anh chị mình thì mình thương kính như anh chị mình. Sư em đó đáng bằng tuổi em mình thì mình thương yêu và bảo hộ người đó như em mình vậy. Bên cạnh tình thương ruột thịt là nghĩa tình cao đẹp của những người chia sẻ chung một lý tưởng, một con đường, nguyện gìn giữ và bảo hộ cho nhau để có thể cùng nhau thực hiện được tâm nguyện ban đầu xuất gia là giúp mình và giúp người bớt khổ, đem lại hạnh phúc thanh lương cho quê hương, cho nhân loại. Sư cô Phước Tâm là một sư chị lớn trong Tri May, nhận những chiếc Y, chiếc áo bị xé toạc, nhàu rách và vá may lại với tình thương của một người mẹ, người chị, trong sáng và đẹp vô cùng. Có ai nghi ngờ được tình thương chân chất cao đẹp đó của những người tu dành cho nhau! Không phải hễ thương nhau là hệ luỵ, sầu đau, anh chị em chúng tôi thương kính và quý trọng nhau, nguyện đi chung với nhau trên một con đường, nguyện xây dựng Tăng thân, nguyện tiếp nối sự nghiệp độ sanh của Chư Bụt.


Ngày ra đi, ngày chia tay làm sao mà không đứt từng khúc ruột…khi ra đi mà chẳng biết mình đi về đâu, có còn chăng ngày gặp lại…?

Lũ chúng tôi lạc loài năm bảy đứa

Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh

(VHC)

Vũ Hoàng Chương cũng đã từng tan nát trái tim, rời bỏ quê hương mà ra đi, ôm trong lòng một mối hận sầu khôn nguôi… Chúng tôi ra đi trước sức ép của rẻ khinh thù ghét, trước sự hất hủi của chính những người đáng bậc cha anh chúng tôi, những người đi trước chúng tôi trong gia đình Việt Nam mà chúng tôi đã nguyện thương yêu và bồi đắp. Nhưng không như Vũ Hoàng Chương và những người trẻ thời đó, chúng tôi ra đi mang theo một trái tim vẫn còn sáng trong nguyên vẹn, trái tim trinh nguyên này sẽ không bao giờ ruồng bỏ quê hương, ruồng bỏ con đường thương yêu và hiểu biết mà chúng tôi đã chọn.

Dù muôn khổ đau lòng không oán thán

Bởi vì dưới ngôi sao em tôi đã sinh ra

Bởi vì vì em tôi mới sinh ra

Để vạn kiếp làm người trai khờ dại.

(“Xin Cúi Đầu Đưa Về” - Thơ Từng Ôm Và Mặt Trời Từng Hạt - Nhất Hạnh)

Anh chị em tôi là những đứa con trai, con gái dại khờ, muốn làm những con người khờ dại để được mãi hoài thương yêu và xây dựng tâm hồn con người, để được sống như những con người chân thật, để được yêu mãi hoài quê hương Việt Nam. Chúng tôi có mặt đây vì quê hương có mặt đó. Chúng tôi có mặt đây vì sự vô minh, thù hận của con người còn có đó, và nguyện muôn đời không bao giờ oán trách, nguyện muôn đời nuôi dưỡng trái tim yêu thương.

Mỗi ngày, mỗi ngày có năm sáu chị em, ba bốn anh em ra đi… trên vai một túi xách nhỏ, có Y bát, cuốn Khắp Chốn Thảnh Thơi - Luật Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni hay cuốn Bước Tới Thảnh Thơi - Luật Sa di, Sa di ni, và một bộ đồ. Chúng tôi không biết mình sẽ đi về đâu! Chúng tôi không thể về lại nhà, đi tu rồi mà về nhà thì khác nào người tu đó đã chết. “Người tu mà không được ở chùa thì phải ra ngoài đường mà ở thôi”, một vị tôn đức thương cảm cho chúng tôi mà thốt lên như vậy. Phật tử khóc như ri, đưa tiễn chúng tôi mỗi ngày, người nào mắt cũng sưng húp, có Bác còn dúi cho chúng tôi vài chục ngàn,…”để uống nước Thầy nghe!” Chiều hôm qua một bác Phật tử vào chùa vừa nói vừa khóc, giọng phẫn uất: “Nó lấy áo của các thầy mặc vào, rồi đi ra ngoài chợ cầm tay con gái bêu xấu tăng thân, ai hỏi thì nói: Tôi là người Bát Nhã, từ Phước Huệ ra…” Các thầy đứng đó phải an ủi và làm cho Bác dịu lòng. Mỗi ngày anh chị em tôi ra đi, đều phải nộp tên và số lượng người rời Phước Huệ cho các chú công an. Tôi ngậm ngùi... Anh chị em tôi đã bị đuổi ra khỏi mái nhà tâm linh của mình mà không được hiểu lý do một cách thỏa đáng, bị đuổi đi mà còn phải khai báo… Có phải ai đó làm như vậy để biết chắc rằng anh chị em tôi thật sự đã và đang ra đi hay không? Những ngày này đại chúng vắng quá, ngồi nhìn hai dãy bàn ăn trống người, ai cũng buồn! Các sư em thì thầm: “Sư chị ơi, bữa nay chắc là mình đừng nấu canh nữa, có nước mắt chan cơm rồi mà…!” Các anh chị em tôi lại khóc, ngậm ngùi!

Hôm Ban Trị Sự Tỉnh Lâm Đồng xuống thăm Ôn Trụ Trì và anh chị em chúng tôi. Nơi nhà ăn chùa Phước Huệ, chúng tôi lại đã khóc cùng nhau, khoảng cách thế hệ xóa đi khi tất cả mọi người, từ Quý ngài Hoà Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức cho đến anh chị em tôi, các vị Phật tử, không thể cầm được nước mắt và chia chung một nỗi buồn quá lớn. Chúng tôi lạy ba lạy tạ ơn quý Ngài đã chở che nâng đỡ yêu thương chúng tôi trong thời gian khó khăn vừa qua. Chúng tôi sẽ chẳng biết phải làm gì nếu không có sự hiện diện và đức hy sinh của quý Ngài. Trong tư thế năm vóc sát đất, chúng tôi nguyện gìn giữ và nuôi dưỡng bồ đề tâm, nguyện dù có ra sao ngày mai cũng sẽ cố gắng hết sức để tu học hầu đáp đền ân đức cao cả của quý Ngài. Lạy xuống thêm một lạy, chúng tôi nguyện khắc ghi tâm niệm không oán trách hận thù những người đã làm cho chúng tôi khốn đốn, nguyện cầu cho họ được nhờ ơn Bụt Tổ mà phát được tâm thiện lành. Nguyện cầu cho họ được mạnh khoẻ, bình an!

Sau những trận gió lạnh âm ỉ kéo dài cho đến ngày bão táp hai mươi bảy tháng chín vừa qua, anh chị em tôi bị đánh bật ra khỏi nơi mình đang ở tu hành như một bầy chim con bị đẩy ra ngoài trong trời giông bão loạn cuồng. Bầy chim non mang trong mình những vết thương sâu kín, may mắn tụ lại nơi ngôi chùa Phước Huệ này, nhờ ơn cưu mang tế độ của Ôn trụ trì, những con chim con đuối sức hồi phục phần nào, chiêm chiếp cất giọng hót tươi vui trở lại. Ôn trụ trì đã dang cánh tay Bồ Tát mà che chở cho chúng tôi. Như một con chim Mẹ, tình thương Ôn cho chúng tôi ngày một đậm đà sâu sắc. Chúng tôi trẻ người non dạ, gây ra thật nhiều vụng về, lầm lỗi, nhưng Ôn vẫn thương tưởng mà dạy dỗ, bảo ban…”Chúng nó tu hành đàng hoàng!” Ôn nói như vậy. Ôn khóc thật nhiều, Ôn buồn thật nhiều khi cảm thấy giờ đây mình bất lực trước cơn bão tố đang hất văng chúng tôi một lần nữa ra khỏi tổ ấm mái chùa Phước Huệ. Ôn ân cần dặn dò từng nhóm anh chị em tôi khi lạy chào Ôn mà ra đi…”Các con nhớ phải luôn luôn cố gắng, mai đây dù ở đâu các con vẫn phải nhớ gìn giữ tâm bồ đề, tiếp tục con đường xuất gia tu học của mình…” Ôn khóc, anh chị em tôi cũng khóc và các Bác Phật tử thì nước mắt đầm đìa. Ôn cho tiền xe mỗi đứa và dặn thêm: “Ráng giữ gìn sức khoẻ nghe con!”.

Sư anh sư chị tôi dặn dò: ”Người ta càng làm cho mình điêu đứng bao nhiêu, mình càng phải tu cho giỏi bấy nhiêu. Người ta càng bức hại, chà đạp mình bao nhiêu, mình càng phải phát khởi và nuôi dưỡng tình yêu thương cho họ bấy nhiêu.” Tôi cúi đầu không nói, nuốt nước mắt để nghị lực thêm mạnh mẽ trong lòng. Nỗi đau này quá lớn, nỗi buồn này quá sâu mà lý tưởng con đường kia cũng quá thanh cao, đẹp đẽ.

Tôi bưng mặt trong lòng hai bàn tay

Có phải để khóc đâu anh

Tôi bưng mặt để giữ cho ấm áp sự cô đơn

Hai bàn tay chở che

Hai bàn tay muôi dưỡng

Hai bàn tay ngăn cản

Sự ra đi hờn dỗi của linh hồn.

("Ấm Áp" – TNH)

Tôi không muốn trả lời một cách rành mạch nghĩa đúng sai lành dữ của một con người vì tôi vẫn tin và muốn tin rằng con người có lương tâm thánh thiện. Chỉ cúi đầu thầm gọi “Bụt ơi! Mẹ Hiền Quán Thế Âm ơi! Thầy ơi!” để năng lượng bình an vô úy của liệt vị ôm lấy chúng tôi và làm sống dậy nơi trái tim của mỗi một con người năng lượng an lành đó.

Anh chị em tôi tới đây trong đêm mưa bão hai mươi bảy tháng chín, mưa bão của đất trời và mưa bão của tình người. “Từ khi có các thầy cô ra đây, chùa vui hẳn ra. Đi đâu cũng nghe tiếng cười vui tươi, thanh thoát của thầy cô, cũng được thấy những khuôn mặt hiền lành, phúc hậu của thầy cô, chúng con thấy cuộc đời nhẹ nhàng ra, chúng con hạnh phúc nhiều lắm!” Bác Phật tử của chùa đã nói với anh chị em tôi như vậy. Các sư anh, sư chị, sư em tôi tranh thủ từng vuông đất nhỏ của chùa, xới đất trồng rau. Hai luống đất nhỏ dọc hành lang dài bên hông chùa được tưới tẩm vun xới, hạt cải mua về gieo lên. Vài ngày nhú mầm xanh non tươi mơn mởn, lại gần hóa ra những hạt cải sắp thành hai hàng chữ ‘an trú - hiện tại’ và một khuôn mặt cười. Hai luống cải “an trú hiện tại” đã làm vui lòng nhiều người và nhắc nhở cho sự thực tập của chúng tôi. Chúng tôi thương kính và tri ân Ôn Trụ Trì cũng như quý thầy đệ tử Ôn và phật tử của chùa biết mấy. Và chúng tôi cũng biết rằng mình được thương yêu bảo bọc chở che dưới mái chùa này. Chùa ít người. Dì Mười, dì Duyên, dì Du…dưới bếp thường dặn nhau: “Sáng sớm thấy tôi không dậy thì nhớ tới đập cửa phòng, đâu biết chừng tôi không dậy nữa và lỡ tôi chết mà không ai hay!” Chùa sẽ vắng lắm nếu anh chị em tôi ra đi. Các dì buồn buồn: “Chẳng thà các thầy cô không ra đây thì thôi, ra đây ở làm chúng con hởi lòng hởi dạ, chùa ấm cúng, mai đây không còn thầy cô nữa, Ôn Trụ trì, quý thầy và chúng con sẽ buồn biết bao. Ôn Trụ Trì không chừng buồn mà đổ bệnh mất thôi. Chúng con đã quen và hạnh phúc khi có thầy cô ở đây, chúng con sẽ nhớ lắm!”

Các sư chú không khóc nhiều như các sư cô lúc chia tay, nhưng nỗi buồn thấm vào trong lại càng thêm nhức nhối. Sáng nay lại tiễn đưa một nhóm các sư em nam, một nhóm các sư em nữ ra đi… Các em mỉm cười chào mà khuôn mặt phảng phất một nỗi buồn sâu kín… Không ai dám nói nhiều, đưa mắt thầm lặng sẻ chia. Sư em Pháp Đại mới 18 tuổi, tuổi còn chơi còn nghịch phá, mà đã bớt hồn nhiên vô tư đi rồi. Sư bé Ngộ Nghiêm mắt đỏ hoe, chẳng mắc cỡ nữa khi khóc trước mặt mọi người. Ôn Trụ trì ngồi đó với Quý Sư bà từ Sài Gòn lên thăm, sách tấn căn dặn các sư em trước lúc lên đường. Quý Sư bà cảm động trước cảnh tượng chia tay như giữa Cha con thân ruột, nước mắt rưng rưng. Lòng tôi se thắt. Các em còn quá nhỏ, còn quá non dại, chỉ mới tu vài ba năm, mà thử thách quá lớn lao, đau thương quá sức chịu đựng của mình! Tối hôm trước sư chị Trang Nghiêm thức giấc khi nghe tiếng thút thít nơi góc Nhà Tổ, lúc đó đã gần 11 giờ. Ngồi dỗ dành an ủi cho sư em Lạc Nghiêm và Thiện Nghiêm, hai sư em ngày mai phải ra đi rồi. Một hồi sau sư chị cũng khóc theo hai đứa em của mình. Tối nào Ôn Trụ Trì cũng đi một vòng quanh chùa trước lúc đi ngủ. Ôn cũng đi tới góc Nhà Tổ khi nghe tiếng người phía đó. Ôn nói rằng: “Sư chị thì không được khóc, sao dỗ em mà chị cũng khóc theo…!” Ôn ngồi đó với các sư con, một hồi Ôn cũng thấy nước mắt mình chảy xuống... Giống như một người Cha vỗ về những đứa con thơ trước cơn giông tố cuộc đời giáng xuống ngay trên những mái đầu vô tội, nước mắt tưới mát hồn thơ. Người tu là những con người vô hại, chỉ có “vũ khí” duy nhất là Tâm Bồ Đề mà thôi! Khi bị bức hại họ biết làm gì khác hơn là càng cố gắng tu tập và gởi năng lượng thương yêu cầu nguyện cho những người hại mình thấm nhuần từ bi của Bụt mà bớt chịu quả khổ về sau. Khi ngồi yên lại anh chị em tôi vẫn thấy mình là những người có nhiều may mắn, được gặp Bụt, được quy y, được gặp Thầy và Tăng thân, được sống và tu trong tình huynh đệ cao đẹp. Cho nên đau buồn cũng có mà hạnh phúc cũng không thiếu đi. Chúng tôi vẫn chế tác hạnh phúc qua những pháp môn tu của mình hàng ngày. Nụ cười tuy có chừng mực và bớt đi nhiều sự hồn nhiên nhưng anh chị em tôi vẫn mỉm cười, vẫn đem hết niềm vui và lòng bình an của mình cho nhau và cho những ai đến Phước Huệ. Dù đối diện với biết mấy là khổ đau, chúng tôi vẫn không bao giờ chết đi ngọn lửa Bồ Đề Tâm, vẫn không bao giờ đánh mất niềm tin nơi Tam Bảo, nơi tánh Bụt vốn có ở mỗi con người.

Anh chị em tôi ăn Tết sớm, hôm đó chỉ mới tháng 12, ngày 18. Buổi sáng Ôn đi công chuyện, chiều vừa về tới chùa là Ôn đi thẳng lên thiền đường và ngồi xuống ngay hàng đầu. Ban Chăm Sóc thương đại chúng, muốn sắp xếp sao cho mọi người vẫn có một cái Tết bên nhau ấm cúng tươi vui như dạo nào. Những vở kịch ngắn, những bài hát, những tiết mục trình diễn “cây nhà lá vườn”. Nhìn khuôn mặt Ôn rạng rỡ anh chị em tôi thấy lòng mình nhẹ ra. Khi “nàng Bạch Tuyết” xuất hiện trên sân khấu thì không ai có thể nhịn cười được nữa, thầy Huệ Trung trong vai Bạch Tuyết, vừa ốm, vừa… đen, cùng với người Mẹ kế thực tập làm mới sau khi đã nghe và thực hành kinh Thương Yêu: “Nguyện cho đừng loài nào sát hại loài nào, đừng ai coi nhẹ tánh mạng của ai, đừng ai vì giận hờn ác tâm mà mong cho ai bị đau khổ và khốn đốn… Nguyện cho mọi người và mọi loài được sống trong an toàn và hạnh phúc, tâm tư hiền hậu và thảnh thơi…” Bác Phật tử vừa nói vừa khóc: “Các thầy cô là đại diện cho những gì đẹp nhất của Phật giáo Việt Nam, 400 thầy cô sẽ trở thành 400 Bát Nhã. Phật tử chúng con có niềm tin nơi các thầy cô!” Các Bác lạy xuống trước Ôn và đại chúng.

Chúng tôi tặng quà Tết lên Ôn, và tặng quà Tết cho nhau, ý thức rằng Tết đến mình sẽ không thể có mặt bên nhau nữa. Không biết lúc đó mỗi người sẽ đi về phương trời nào và bao giờ mới có thể được ngồi bên nhau, hát cho nhau nghe như thế này! Chúng tôi đang sống sâu sắc bên nhau, trân quý từng ngày từng giờ.

Sáng nay cái tin “đi thăm Phương Bối với Ôn” được lan ra một cách nhanh chóng và hào hứng. Như những con nai, con thỏ, con sóc được thả trở lại núi rừng, anh chị em tôi vui vẻ và hạnh phúc biết bao, đặt chân lên đất Phương Bối xưa với niềm thương cảm và xúc động sâu xa. Có mười mấy phút lái xe khỏi chùa mà Ôn cũng phải xin phép người ta thì anh chị em tôi mới được đi chung với nhau như vầy. Cái điều cơ bản nhất của con người là được đi lại tự do trên đất nước mình mà chúng tôi cũng thấy xa vời quá. Sau ba tháng sống dưới sự giám sát kỹ càng, chúng tôi được ra ngoài chung với nhau, đi thăm Phương Bối. Phương Bối đẹp quá, tự do trong lòng mỗi anh chị em được nhân lên gấp bội trước bao la trùng điệp núi đồi. Những con chim Phương Bối đã bị đánh dạt đi không biết về phương nào, lông cánh tả tơi… Bây giờ những con chim non của Phương Bối cũng bị đánh cho tan tác rồi, biết bao giờ mới được hội tụ. Giống như thầy Thánh Pháp đã chia sẻ với những anh chị em đồng đạo Trường Trung Cấp Phật Học Lâm Đồng ngày xuống thăm Phước Huệ, rằng Bát Nhã đã trở thành quê hương, Phước Huệ đã trở thành quê hương và Phương Bối từ lâu đã trở thành quê hương tâm linh của mỗi anh chị em tôi, Phương Bối không bao giờ chết, Bát Nhã không bao giờ chết! Những cánh chim non tan tác lẻ bầy, đang bay dạt về phương nao…?! Như Tô Hoài ngày xưa, qua nhân vật của mình, đã ngửa mặt lên trời mà than: “Em ơi, bây giờ em ở đâu?” Tôi cũng muốn ngửa mặt lên trời mà gọi như thế, gọi những đứa em còn quá non dại của mình: “Em ơi! Bây giờ em ở đâu?!”

Đây Bát Nhã thân yêu

Có những người mang trong trái tim tình thương lớn

Mang trong trái tim đại nguyện

Nguyện sống bên nhau, xây cõi Tịnh chốn này

(Bát Nhã Ca)


Phần 9 : Nỗi đau xé lòng

Đây hai bàn tay tôi

Một kiếp luân hồi không xoá nhoà thương tích

Nụ cười còn đây tôi không bao giờ oán trách

Còn đây tâm hồn thơ dại ngày xưa

Đây hai bàn tay xưa

Băng bó vẫn chưa lành

Tôi mang về trả lại

Thành khẩn nguyện cầu xin đừng nghiến nát

Nguyện cầu mười phương trăng sao chứng minh.

(Xin Cúi Đầu Đưa Về trong Thơ Từng Ôm và Mặt Trời Từng Hạt)

Con người có bản năng hướng thiện, dù lớn đến đâu, dù sống dài đến mấy, con người ta vẫn khắc khoải đi tìm… đi tìm cho mình một con người thật, đi tìm một nơi mà ở đó con người khóc cười được với cái giọng rất riêng, với chính những gì rất thật của mình. Có nhiều người thắc mắc và chất vấn anh chị em tôi rằng tại sao quý vị lại phải đi chung với nhau mới tu được, tại sao quý vị không ai về nhà nấy cho yên ổn mà cứ bám riết lấy nhau để rồi bị đánh đuổi chạy từ nơi này sang nơi khác như vậy… Tại sao…? Tôi đặt câu hỏi này cho chính mình “Tại sao tôi thương anh chị em tôi nhiều như vậy? Tại sao tôi thương con đường này nhiều như vậy?” Chúng tôi là những người xa lạ, về Bát Nhã từ mọi miền đất nước, có người còn thuộc dân tộc Vân Kiều, … Chúng tôi về với nhau và nguyện tu tập bên nhau bởi vì chúng tôi được nói lên tiếng nói của con người, nói lên tiếng nói chân thật từ con tim đang đập liên hồi trong khuôn ngực rực cháy lên ngọn lửa Bồ Đề Tâm như Phùng Quán thuở nào đã cất lên khẳng khái:

Yêu nhau cứ bảo là yêu

Ghét nhau cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu

... ... ... ...

Đến với nhau, chúng tôi có thể sống thật con người của mình. Những khổ đau, tủi hờn được sẻ chia và ôm ấp, những yêu thương tươi đẹp được gìn giữ và vun bồi. Chúng tôi được cười những nụ cười tươi sáng từ con tim của mỗi người muốn cống hiến niềm vui cho thế gian, chúng tôi khóc những dòng nước mắt mặn mà tình người cũng từ chính con tim muốn đem tình yêu thương đến cho quê hương này. Chúng tôi đến với nhau, tu tập, học hành chung với nhau và thương yêu gắn bó như ruột thịt bởi vì chúng tôi được đích thực là mình, được sống thật là chính mình và được nhận mặt nhau như anh chị em một nhà, con cháu của một gia đình tâm linh rộng lớn.

Buổi sáng hôm đó thật bình an, một buổi sáng thường lệ mồng chín tháng mười hai, một buổi sáng có nắng và một chút sương nhẹ... Chúng tôi được đi chung bên nhau những bước chân bình lặng thong dong trong buổi thiền hành. Rồi tất cả anh chị em tôi theo Ôn Trụ Trì và Thầy Thanh Nhật, thầy Giới Đạt, thầy Giới Tuệ đệ tử Ôn đón tiếp phái đoàn đại diện Liên Hiệp Quốc và Lãnh sự Thuỵ Điển tới thăm. Sự yên ắng của không gian Phước Huệ và những bước chân thiền hành bị khuấy động bởi nhóm người lạ mặt đeo khẩu trang. Thế rồi buổi gặp gỡ của Phái đoàn các nước bạn với Ôn Trụ Trì và anh chị em chúng tôi không thành giữa tiếng la hét, chửi rủa và buộc tội của đám đông. Người ta nhục mạ và làm tổn thương nhân phẩm của Ôn Trụ Trì và của anh chị em chúng tôi. Tôi rúng động bàng hoàng trước cảnh một người tự xưng là Phật tử dang tay sỉ vả thằng thừng vào mặt một vị tôn đức. Xung quanh tôi là cảnh hỗn loạn ồn ào. Anh chị em tôi vẫn ngồi yên, mỗi người đều duy trì niệm từ bi và bình lặng. Sự hỗn loạn càng tăng lên khi phái đoàn thăm viếng phải ra về. Ôn trụ trì lập tức bị cô lập trong phòng làm việc mấy mét vuông của mình, bao quanh là tiếng la hét chửi rủa nhục mạ của hơn 100 con người. Sau gần một tiếng đồng hồ, Ôn Trụ Trì mới thoát được vào phòng riêng và bên ngoài vẫn còn tiếng đập cửa la hét.

Sức ép càng tăng khi Ôn nhất định không ký vào bản kiến nghị đuổi anh chị em tôi ra khỏi chùa. Chiều hôm đó, các Thầy Giới Đạt, Thanh Nhật và các Bác Phật tử của chùa cũng bị người ta nắm lôi ra ngoài. Tiếng nói của Ôn không có ai nghe và chìm nghỉm giữa những âm thanh hỗn độn của giận dữ và vô minh của con người. Áp lực, sự giận dữ càng lúc càng tăng... «Ôn có thể ngất xỉu ở trong đó mất thôi, Ôn có thể bị áp bức mà chết giữa lớp lớp những con người đang la ó, buộc tội...» Chúng tôi muốn bảo vệ Ôn, chúng tôi muốn có mặt bên Ôn trong giây phút nguy nan này. Lòng tôi thắt lại khi từng sư anh, sư chị, sư em của tôi bị nhấc bổng và ném ra khỏi phòng như một bao tải. Sư em Áo Nghiêm, sư em Liên Nghiêm bị xô đẩy và ném ra ngoài, tay của Liên Nghiêm sưng đỏ vì bị xiết quá mạnh. Đầu của sư em Hoạt Nghiêm sưng vù một cục to tướng khi lãnh lấy một cú thoi từ một bàn tay thô bạo nào đó rồi bị đẩy từ trong phòng ra và va đầu thêm vào cột nhà. Sư em chỉ mới 17 tuổi. Thầy Phong Thuấn bị xô ra ngoài và bị xé cho rách áo. Thầy Thánh Hiệp, sư em Pháp Doanh, sư em Pháp Chuẩn cũng bị ném ra ngoài kèm theo lời đe dọa gầm gừ của chú công an mặt thường phục. Tôi nhận ra chú công an đó, người có mặt từ đầu những ngày Bát Nhã nguy nan, đứng bình thản quay phim cảnh anh chị em tôi bị đánh đập, rượt đuổi. Tiếng la thất thanh của sư em Đáo Nghiêm khi bị một người đàn ông xô đẩy và đụng vào, rồi sư em cũng bị hất văng ra khỏi phòng. Chúng tôi cùng ngồi xuống chung với nhau ngay trên nền gạch và con đường trước nơi đang xảy ra áp bức. Tiếng niệm Bồ Tát Quan Thế Âm cất lên, trầm hùng, thanh thoát. Giống như một đàn ong, không có sự chỉ huy, không có ai sắp xếp, từng người từng người chúng tôi cùng ngồi xuống bên nhau và hoà vào tiếng niệm Bồ Tát. Năng lượng mát mẻ thanh lương của Bồ Tát Quán Thế Âm đang có mặt, ôm lấy mọi người không phân biệt tốt xấu đúng sai. Lòng tôi bình an và nhẹ nhàng lạ. Để cho mình hòa vào năng lượng hùng hậu của Tăng thân, khi mình là một với năng lượng dạt dào yêu thương, khi mình là một với biển âm thanh vi diệu của Mẹ Hiền Quan Âm thì những lời chửi rủa nhục mạ kia không làm mình tủi thẹn và đau khổ. Những người anh chị em của tôi đã khóc, những dòng nước mắt lặng lẽ bình an. Không một ai trong chúng tôi sanh khởi tâm niệm oán thù, nước mắt này là dòng nước mát tưới cho hồn người bớt rát bỏng đau thương, bớt hận thù nóng bức.

Ngày mồng mười tháng 12 cũng xảy ra quang cảnh như vậy, đám đông hơn hai trăm con người uà vào chùa la ó. Chuông đại hồng đã được thỉnh lên, hùng tráng và mạnh mẽ, như tiếng gọi trở về của Đấng Cha Lành, như tiếng báo động kêu thương của những người con của Bụt. Người ta đem băng rôn, biểu ngữ giăng khắp chánh điện chùa.  Anh chị em tôi đang đắp y ngồi vàng rực cả chánh điện, yên lặng tĩnh toạ và niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm. Những người Phật tử theo phép tắc thông thường nhất là vào chánh điện của một ngôi chùa thì bỏ giày dép ra, cúi đầu lễ Phật. Thật ra, người Việt Nam theo truyền thống tốt đẹp ngàn xưa, dù không phải là Phật tử, khi vào chùa cũng bỏ giày dép ra và cúi đầu lễ Phật. Đám đông mang cả giày dép chạy ùa vào chánh điện rồi la hét, giăng băng rôn biểu ngữ ngay trước bàn thờ chính, ngay trước tôn tượng của Đức Bổn Sư. Những người khác thì đập phá cửa tháp chuông và giựt đi dùi chuông mà sư chú đang thỉnh đại hồng. Họ chửi rủa anh chị em chúng tôi là những người tu mờ ám, là những người bán nước, bị đồng tiền mua chuộc,... hãy ra khỏi chùa để cho họ có chỗ mà tu tập... Những người này là ai, có phải là Phật tử? Một người đàn ông còn trẻ đã tỏ lòng thương cảm và «thông báo» cho anh chị em tôi rằng: «Chúng tôi được điều vào từ Nam Định, tổng cộng là ba ngày, được môt ngày rưỡi rồi, các cô ráng thêm một ngày rưỡi nữa nhé! Vô đây mới biết các Thầy cô tu hành đàng hoàng, tôi thấy hối hận lắm...». Khắp nơi tiếng huyên náo dễ làm con người bị kích động. Anh chị em chúng tôi vẫn ngồi đó, yên lặng và bất động. Bên ngoài công an mặc thường phục có mặt khắp mọi ngỏ ngách Phước Huệ, dòm ngó và theo dõi từng động tĩnh của chúng tôi. Mà chúng tôi nào có làm gì khác hơn ngoài ngồi yên mà nhiếp tâm vào sự bình an. Đám đông huyên náo chạy về phía dãy phòng mà họ nghi ngờ là có người chị lớn của chúng tôi ở đó. Cửa phòng bị dộng ầm ầm, tiếng la hét, tiếng đổ vỡ, bao nhiêu thứ âm thanh hỗn độn tràn ngập khắp nơi. Họ không biết rằng Tăng thân không có người cầm đầu, mỗi người trong tăng thân là mỗi tế bào trên cùng một cơ thể, đều quan trọng và cần thiết như nhau. Cuối cùng Ôn Trụ Trì xuất hiện, thế là đám đông đổ dồn về hướng đó. Ôn lại bị bao vây giữa hơn hai trăm con người hung dữ. Người ta không cho Ôn di chuyển dù chỉ là một bước. Biểu ngữ lại được giăng lên với những lời lẽ xúc phạm đến nhân phẩm của một con người. Đám đông lại hung hăng bao vây lấy anh chị em chúng tôi đang ngồi bệt xuống nền đất, giăng biểu ngữ xung quanh chỗ chúng tôi ngồi và chửi rủa thậm tệ hơn ngày hôm qua nữa. Tôi ngồi đó với các anh chị em, bên phải tôi là sư em Phượng Nghiêm. Phượng Nghiêm năm nay mới 18 tuổi, vào chùa tu năm em chưa đầy 15. Em hiền lành và trong sáng lắm, nếu nói chúng tôi đã làm gì nên tội mà bị đánh đuổi cho tới tận đường cùng như vậy thì thử hỏi rằng em tôi mới chừng đó tuổi đầu đã phải chịu những tủi nhục, rẻ khinh này hay sao? Tiếng Phượng Nghiêm trong trẻo ngây thơ cất lên tha thiết, hoà chung với tiếng niệm thiết tha trầm hùng vút cao của các sư anh, sư chị, sư em khác quanh mình. Ngay trên đầu chúng tôi là tiếng gào rú của 2, 3 cái loa phóng thanh cỡ lớn, dọa dẫm khuyến cáo chúng tôi phải rời khỏi chùa Phước Huệ. Có sư em ngồi vòng ngoài, nhắm mắt niệm Bồ Tát mà mặt hứng đầy nước bọt văng ra khi những người hung dữ kia ghé sát xuống mà chửi rủa. Sư em Trung Ngọc cũng ngồi vòng ngoài, cảm thấy tai mình ù đi khi một người đàn bà đã ghé chiếc loa phóng thanh vào tai em mà chửi: ... «Mày đi tu gì mà ngu và lì quá vậy, cút về địa phương mà ở đi, tới đây tính chiếm chùa hả?».

Chao ơi ! chúng tôi như những con chim non bị đánh cho tan tác và đuổi ra khỏi tổ ấm của mình trong cơn giông tố ngày hai mươi bảy tháng chín vừa qua, may nhờ ơn đức Ôn Phước Huệ cưu mang cho nên mới có được ngày này. Những vết thương trong lòng còn chưa lành lặn, giòng nước mắt còn chưa ráo trên những khuôn mặt trong sáng kia mà, nỡ nào quý vị còn làm cho những tâm hồn non dại kia ghi đậm thêm vết buồn thương. Nước mắt em tôi rơi lã chã và tiếng niệm Bồ Tát đôi chút nghẹn ngào. Càng bị chửi rủa chúng tôi càng niệm thiết tha. Năng lượng từ bi vô uý của Mẹ Hiền Quan Thế Âm bảo hộ chúng tôi. Năng lượng bình an của Tăng thân ôm ấp và làm cho chúng tôi an lành, mạnh mẽ. Tôi mở mắt nhìn thẳng vào sự hỗn loạn trước mặt và trên đầu mình, bỗng dưng một niềm thương cảm trào dâng. Những người này, những người đang chửi bới nhục mạ chúng tôi, đáng bằng tuổi anh tôi, chị tôi hay bằng tuổi Ba Mẹ, Ông Bà tôi. Họ được mớm cho những suy tư «chúng tôi là những kẻ cướp chùa, là những người bị đồng tiền ngoại bang mua chuộc,...», họ được hiểu theo cách nhìn nhận đó và họ tin tưởng rằng những gì họ đang gây ra cho chúng tôi là đáng lắm. Tôi thoáng mỉm cười và thấy thương họ hơn bao giờ hết. Làm sao mà oán hận những con người có nhiều khổ đau mê mờ kia chứ, hạnh nguyện của chúng tôi là «Buổi sáng cho người thêm niềm vui. Buổi chiều giúp người bớt khổ» kia mà.  Bồ Tát Địa Tạng đã phát nguyện: «Địa ngục mà còn người đau khổ thì thề không thành Phật. Chúng sanh mà chưa độ hết thì thề không chứng quả vị Bồ Đề». Nguyện cầu cho những người đang làm chúng tôi điêu đứng được nhờ ơn Bụt Tổ mà phát được tâm lành để bớt quả khổ về sau. Tôi ngồi đó, lòng rộng mênh mông bình thản... nghĩ đến Thầy, hình ảnh Phương Khê thênh thang...

Tôi thấy âm thanh thật là vi diệu, giống như những đợt sóng, tuy hình thức có khác nhau nhưng bản chất của sóng là nước, những gì tôi được nghe tuy là có khác nhau nhưng bản chất nó vẫn là những âm thanh phát ra từ cổ họng. Những lời nói yêu thương và những lời chửi rủa đều được phát sinh ra theo cùng một cách, nó là những thứ âm thanh, và bản chất của nó chẳng khác nhau mấy. Tôi mỉm cười khi quán tưởng tới điều đó. Tôi thầm gọi Thầy ơi! Ngay trên đầu và xung quanh chúng tôi là những âm thanh mang chất liệu của tà kiến, hận thù. Tôi thấy trong tôi tình yêu thương dâng tràn, mát mẻ và thanh lương lạ. Tôi thấy tôi không có một chút sợ hãi nào, lòng yên ả như dòng suối nhỏ. Tôi vẫn nghe những âm thanh và tôi cũng biết những âm thanh đó mang nội dung gì theo cách hiểu thông thường của thế gian, nhưng sao trong lòng tôi không hề có một niệm oán hận hay thù ghét gì. Tôi ngồi đó, hoà chung tiếng niệm Bồ Tát với anh chị em và thấy hơi thở mình đều đặn, sâu lắng. Trong tôi thênh thang Phương Khê ngập nắng... Lúc đó tôi là Phương Khê, có Thầy có anh chị em, Thầy đang đi ngang qua vườn trúc, lặng lẽ, bình thản, an nhiên! Tôi vui quá nên đã... xuýt mỉm cười nhưng tôi đã kìm lại kịp. Bởi vì chúng tôi đã được căn dặn là đừng nên cười những lúc như vậy, những người không ưa mình sẽ nổi giận thêm thôi khi họ không thấy mình sợ hãi khi bị đe dọa, chửi rủa mà còn ngồi đó cười. Tôi không mỉm cười nữa nhưng trong lòng vẫn thênh thang lạ lùng. Tôi thấy con người của mình nhẹ nhàng, trong sáng và mát mẻ quá chừng! Mà những lúc nhẹ nhàng như vậy, an vui như vậy thì tôi lại rất ưa cười, thành thử tôi... đưa nụ cười vào trong giống như tôi đã đưa những dòng nước mắt lặng lẽ vào trong vậy. Tôi thầm gọi “Thầy ơi, con bình an lắm!” Tôi biết Thầy cũng bình an lắm những lúc như vậy, Thầy cũng có mặt nơi đây với chúng tôi, và Thầy cũng đang mỉm cười lặng lẽ với chúng tôi. Người tu là áng mây bay, là vầng trăng tỏ. Có ai từng chửi rủa nhục mạ được một áng mây bao giờ! Có kẻ nào từng đe dọa giam cầm được một vầng trăng mát thanh thản giữa trời không!

…bóng tối vẫn còn chẳng hề mất mát

mà được ôm ấp chuyển trao bởi trăng bạc thong dong…

niềm đau vẫn còn chẳng hề mất mát

mà được tự do hạnh phúc ấp ủ yêu thương!

Niềm đau chừ! ai từng khiếp đảm!

đánh mất nhuệ khí chới với phiêu linh…

Bóng tối chừ! kẻ nào từng qua lại!

u tối hoang mang lạc lối quên đường về…

Tự do chừ! ai từng nếm trải!

khoảng khoát không gian chẳng vướng bận mây ngàn…

Mát trong trăng tỏ chừ! Hành giả nào là Bồ Tát

Rong chơi thanh thản giữa vô tận bình an…


Phần 8 : Con đường không đứt đoạn

Sáng nay, chúng tôi rời buổi ngồi thiền sáng với một tâm hồn thênh thang và khoáng đạt. Ngoài trời cả khu phố còn chìm trong sương mù. Đứng im lặng bên nhau trong không khí yên tĩnh, anh chị em chúng tôi đặt lòng mình và trái tim của tăng thân vào chung một nhịp thở, chung một cơ thể. Chúng tôi biết ngày mai vẫn còn sương mù rơi nặng hạt hoặc vẫn có thể có bão tố khốc liệt đi ngang qua hoặc những cơn sấm sét cuồng nộ …, nhưng trong lòng chúng tôi vẫn cảm thấy rất ấm áp. Con người ta chỉ thật sự lạnh giá khi không biết phải đi về đâu, khi cảm thấy quá chông chênh, quá mất mát trong cách hành xử của chính mình. Còn chúng tôi, con của Bụt, của chư Tổ, của Thầy, đã may mắn có con đường để đi, để đưa tới hạnh phúc. Ngọn lửa bồ đề tâm vẫn còn cháy rực, vẫn còn được nuôi lớn lên trong từng giây phút của sự sống. Đứng thật yên trong lòng tăng thân, chúng tôi có thể thấy được những bước chân nhẹ nhàng an tĩnh của từng anh chị em dù họ đi tới chốn nào. Những nụ cười trong sáng , những ánh mắt ngời lên một thông điệp yêu thương vô điều kiện của các em nhỏ tuổi. Chúng tôi nhìn các sư em như nhìn những vị Bụt, những vị Bụt cần phải có mặt trong chốn này và trong cuộc đời. Nếu không có những ý nghĩ trong sáng, những hành vi bất bạo động, những lời nói đầy thương yêu của anh chị em thì chắc hẳn cũng có những người trong chúng tôi đôi lần đã để lòng mình chùng xuống … Chính những điều ấy đã cứu đời tu của chúng tôi, cứu mạng sống của tăng thân.

Với tư cách của một người tu chúng tôi thật sự không có gì để mất. Ngày đi xuất gia, quỳ xuống thệ nguyện trước Bụt, trước Thầy, trước tăng thân cũng chỉ có duy nhất một lý tưởng  “Thề nguyện từ nay chỉ một lòng’”. Vì vậy chúng tôi đã rời Bát Nhã với ước nguyện nguyên sơ như ngày đầu: “CHỈ MUỐN TU THÔI”.  Hành trang ấy đủ để chúng tôi bước đi thanh thản, đủ để cho chúng tôi bình tâm mà nhìn thấu đáo và hiểu thương cho những người gây ra vết thương này. Có lẽ vì tâm nguyện của chúng tôi mà  Chư Bụt đã đưa cánh tay của Ôn Phước Huệ ra để đón nhận chúng tôi. Sáng sáng, Ôn thường tận tình chăm sóc và tưới cho những chậu cây trong vườn chùa. Chúng tôi ý thức Ôn cũng đang  chăm sóc và tưới thêm cho chúng tôi những hạt giống đẹp của người tu . Và như thế, con đường chuyển hóa của chúng tôi vẫn tiếp tục từng ngày không hề đứt đoạn. ‘‘Bao giờ con đường cũng tươi mát như lần đầu gặp gỡ. Tình thương không bao giờ nói rằng đây là lần  cuối"

Sau một tuần nghỉ ngơi vì có nhiều người bị bịnh quá, chúng tôi tiếp tục những thời khóa cần thiết bởi vì chúng tôi biết thời khóa cũng là một trong những thức ăn của chúng tôi. Ngày 3-10 chúng tôi tổ chức buổi tụng giới đầu tiên theo giới phẩm tại Phước Huệ . Những ngày đầu mới gặp Ôn cũng như sau này chúng tôi luôn thấy gương mặt Ôn bừng lên một sự sống mãnh liệt, một niềm tin rất lớn vào chư Bụt nên Ôn thường dạy chúng tôi tụng kinh để Bụt gia hộ. Và chúng tôi hiểu rằng điều ấy cũng giúp Bụt có mặt cho chúng tôi  khi có sóng gió, Bụt có mặt trong cách chúng tôi sống, cách chúng tôi hành xử và đối diện với những khó khăn. Với sự yểm trợ của Ôn, ngày 4-10 chúng tôi bắt đầu thời khóa ngồi thiền và tụng kinh một ngày  4  thời công  phu. Buổi sáng chúng tôi ngồi thiền tại phòng, buổi trưa và chiều  tụng  kinh, sám hối tại chánh điện, buổi tối chúng tôi thường chia nhau để một nửa chúng lên tụng kinh Pháp Hoa với Phật tử bởi vì chánh diện không đủ chỗ cho tất cả anh chị em, một nửa ngồi thiền trong phòng. Ngày 6-10 Ôn đã hướng dẫn đại chúng đi thiền hành buổi đầu tiên, sau đó đứng trước tượng Bồ Tát Chuẩn Đề chúng tôi cùng niệm Bồ Tát Quan Thế Âm để cầu nguyện. Chúng tôi tin tưởng rằng năng lượng thanh lương, tình thương của ngài sẽ thức dậy trong trái tim của chúng tôi và của cả những người hành xử bạo động ấy.

Những ngày đầu mới ra chùa Phước Huệ, các cô chú Phật tử tận tình chăm sóc cho chúng tôi từng bữa ăn, chúng tôi cảm thấy họ như ba mẹ của mình, và chúng tôi cũng tự động chia nhau xuống phụ bếp. Về sau, chúng tôi bắt đầu các đội luân phiên lại một cách nhịp  nhàng như bầy ong xây tổ. Ngày 13-10 chúng tôi có buổi chấp tác toàn chúng đầu tiên, sau đó mỗi tuần chúng tôi đều tổ chức một buổi chấp tác toàn chúng, công việc chủ yếu là tắm Bụt, lau dọn chùa. Ngoài các thời công phu và công việc chúng tôi cũng tổ chức tập thể thao mỗi ngày như ở Bát Nhã để vận động thân thể. Các sư chú thì chơi cầu lông ,đá cầu, hay có người tập chạy bộ, tập gậy, yoga….  từ 15h30- 16h30. Chia khu vực tập thể thao riêng biệt của hai chúng tăng ni. Thỉnh thoảng Ôn có mặt  trong những buổi thể thao để khích lệ và mang lại cho anh chị em rất nhiều niềm vui. Hai tuần sau những lớp oai nghi và sinh hoạt y chỉ sư cũng được tiếp tục. Không khí tu tập và sinh hoạt trong chúng dần dần ổn định nên anh chị em có rất nhiều cảm hứng cho tu học: nhiều nhóm ngồi lại chia sẻ pháp đàm với nhau về uy nghi, về các pháp môn thực tập căn bản, viết sổ công phu, học tiếng Anh và chơi đố vui Phật pháp vừa học vừa chơi. Các anh em thường ngồi uống trà, thưởng thức những giây phút quý giá có mặt cho nhau và chia sẻ những khó khăn và hạnh phúc với nhau. Từ tinh thần ấy các sư chú bắt đầu sáng tác nhạc tiếp tục như lúc còn ở Bát Nhã. Ngoài những chương trình học và sự thực tập, một nhóm anh chị em cũng tìm cách cân bằng thân tâm bằng phương pháp ăn cơm gạo lức và muối mè.

Có nhiều anh chị em chúng tôi  gặp áp lực rất mạnh từ gia đình và ở bên ngoài. Những vết thương vừa qua cũng còn gây ra một chút nhức nhối trong lòng. Những ngày này chúng tôi thường nhớ tới Thầy, nhớ tới hình ảnh rừng cây trơ trụi lá trong mùa đông mà Thầy đã viết trong Nẻo Về Của Ý. Lạ thật, hình ảnh đó đã bao năm mà cứ như một lời nhắn gởi cho chúng tôi trong giai đoạn này. “Mới ngày nào đây tàng lá xanh của chúng làm tươi cả một vùng và che lấp những dãy nhà phía sau chúng; bây giờ chúng đứng trơ trụi và khổ hạnh, sẵn sàng chờ đợi và chịu đựng  một mùa đông dài dặc sẽ đến  …Phải bắt chước những hàng cây kia, rụng hết tất cả mọi lá phù hoa đi để mà sửa soạn chịu đựng bão táp, mưa gió, tuyết sương.`` Chúng tôi đang tập buông bỏ những gì người ta khoác lên cho chúng tôi, những lời la mắng, bạo hành, những tiếng đinh tai nhức óc của loa phóng thanh, những bài báo và tuyên truyền không đúng sự thật, những cáo buộc vô lý, những oan ức …, Giây phút này chúng tôi chỉ muốn quay về bên trong chăm sóc và thương yêu từng vết thương chưa kịp chữa lành của tăng thân. Nếu không làm như thế,  chỉ biết bám víu và lo lắng sầu khổ, tổn thương vì những vụn vặt nhỏ nhoi ấy chắc có lẽ chúng tôi đã chết, dù chết với tư cách của một người tu. Những buổi ngồi với nhau, ngồi với y chỉ sư,đã giúp cho chúng tôi giải tỏa rất nhiều những vướng mắc trong lòng.

Có lúc chúng tôi thấy anh mình đã khóc, em mình đã khóc, chị mình đã khóc.  Chúng tôi khóc không phải vì oán thù, tủi nhục, hay giận hờn mà khóc vì hạnh phúc khi  biết rằng nơi đâu chúng tôi cũng có thể làm nơi trú ẩn "cho khổ đau biến thành hoa trái yêu thương". Giây phút nào của huynh đệ chúng tôi cũng là giây phút vun bồi lý tưởng. Thầy chúng tôi vẫn còn, anh chị lớn của chúng tôi vẫn còn đó cho chúng tôi nương tựa, em chúng tôi vẫn còn đó cho chúng tôi nương tựa…thì bão tố bên ngoài có thể làm ra một vài vết thương trong lòng chúng tôi nhưng không thể nào chia cắt thân thể của tăng thân. Bởi vì nó không có hình có dạng, có màu sắc, có âm thanh; nó đã thấm vào trong huyết thịt và máu xương của chúng tôi. Tăng thân là lý tưởng của chúng tôi, Bụt là lý tưởng, Thầy là lý tưởng, mà  lý tưởng thì có ai chia cắt được? Đó là của chúng tôi, là trái tim, là hạnh phúc, là sự sống trong từng tế bào rồi. Chúng tôi cũng như những hạt bồ công anh bay đi bốn phương và sẽ đáp xuống trên những mảnh đất hứa. Mảnh đất nào cũng đủ ngọt ngào và thơm mát cho loài hoa này.

Những ngày ở Phước Huệ thật quý giá và đã cho chúng tôi rất nhiều cơ hội để học hỏi từ Ôn Trụ Trì. Chúng tôi cảm thấy thật gần gũi khi Ôn luôn xưng là ‘Thầy’ – và gọi chúng tôi là ‘mấy con’. Sau những buổi tụng kinh Ôn thường xuống ngồi chơi với chúng tôi, kể những câu chuyện “ngày xưa “, khi Ôn còn làm điệu. Từ những câu chuyện khôi hài của chú điệu năm xưa ấy Ôn thường khéo léo dạy cho chúng tôi nhiều bài học. Ôn lo cho chúng tôi từng tí một, từ giấc ngủ cho tới tấm nệm, máy nước nóng. Ôn mua từng tấm kiếng gắn vào bồn rửa mặt để chúng tôi thấy đường mà cạo tóc. Những buổi  ăn cơm, Người thường đi lui đi tới quanh bàn khất thực và bảo: “Các con ăn nhiều cho mau lớn”. Những buổi ăn cơm chúng tôi thường ăn trong im lặng, sau những buổi ăn Ôn thường dặn dò chúng tôi đôi điều với nụ cười rất tươi và hòa ái. Chúng tôi vẫn thường viết thư cho Ôn với tất cả niềm biết ơn và hạnh phúc của mình. Biết rằng hành động che chở chúng tôi của Ôn không phải là dễ dàng và an toàn cho Ôn, mà Ôn vẫn dấn thân để tiếp sức cho chúng tôi.  Hành động của Ôn cũng như một vị Bồ Tát  Địa Tạng sẵn sàng có mặt trong chốn hiểm nguy. Cả hàng vạn điều chúng tôi đã học từ học đường không làm chúng tôi bình an hơn những lời dặn dò đơn sơ, hành động dũng khí hôm nay Ôn đã trao cho chúng tôi, cũng như tình thương và tấm lòng bao la rộng lớn của Thượng tọa Minh Nghĩa, Thượng tọa Viên Thanh. Dù chúng tôi không được phép về ở với quý Ôn nhưng tấm lòng và hành động  đại nhân của quý ngài sẽ tiếp tục soi sáng cho con đường của chúng tôi. Chúng tôi tin rằng, nếu còn làm một tu sĩ chúng  tôi sẽ không bao giờ phụ bạc những tấm lòng  ấy bằng sự thực tập của mình. Chúng  tôi sẽ mang quý ngài đi về tương lai, luôn đi về hướng của tình thương, của tỉnh thức dù con người vẫn tiếp tục hành hạ chúng tôi bằng niềm đau của họ. Một vài anh chị em của chúng tôi vì không chịu nổi những áp lực đã lui về với gia đình, nhưng tăng thân vẫn tiếp tục mang họ đi về tương lai. Vẫn một tình thương trung kiên chúng tôi biết anh chị em ấy của chúng tôi cần nhiều không gian để cho mọi thứ hồi phục trong tâm. Cửa ngỏ của tăng thân không bao giờ đóng với bất kỳ một ai, tăng thân cũng như một người mẹ luôn mở cửa cho người con có cơ hội được sống trong tình thương và bình an.  Chúng tôi thường tập nhìn những chú công an như huynh đệ ruột thịt của mình, dù họ đã canh giữ chúng tôi ngày đêm, và có thể đâu đó trong tâm họ coi chúng tôi như kẻ thù, như những hiểm nguy. Nhưng chúng tôi biết anh chị em chúng tôi và họ từ cùng một máu xương mà ra, và nhìn họ với con mắt thù ghét hay chua chát là vượt ngoài sức lực của chúng tôi. Họ cũng là biểu hiện của một thứ tình thương mà chúng tôi cần nhận diện và trân quý.

…Bếp lửa tình thương không tắt.

Bếp  lửa tình thương vẫn còn thường được cháy lên bởi rất nhiều hành động của mọi người dành cho chúng tôi. Những lúc chúng tôi mệt và xuống sức thì quý Tôn Túc từ Bình Định, từ Đà Lạt, quý ni sư từ Huế, từ Sàigòn đều kịp thời có mặt và tiếp sức cho chúng tôi. Từng hành động của thầy Thanh Thắng, thầy Thanh Quang, của tăng ni Lâm Đồng…của các cô chú nhân sĩ trí thức, sự hiện diện thường xuyên của các cô chú Tiếp Hiện và rất nhiều Phật tử đã hiểu và thương chúng tôi - những người tri kỷ của con đường bất bạo động. Tất cả những điều ấy đều khơi dậy ngọn lửa thiêng trong lòng chúng tôi. Mỗi ngày những hành động đẹp đẽ ấy giúp cho chúng tôi luôn tìm thấy niềm vui trên con đường phụng sự bằng tình thương và bất bạo động, để nuôi dưỡng mãi con đường l‎‎ý tưởng chúng tôi không hề bị đứt đoạn, vẫn là con đường tinh khôi từ thưở ban đầu :

“Bao giờ con đường cũng tươi mát như lần đầu gặp gỡ

Tình thương không bao giờ nói rằng đây là lần cuối

Vốn là người bạn cố tri

Con đường bao giờ cũng kiên nhẫn đợi chờ

Dù dưới lớp bụi đỏ

Dù phủ kín lá vàng

Dù mưa vũng lầy lội.

Dù tuyết phủ ngày đông

Con hãy trở vể  đi

Rồi con sẽ thấy

Như cây kia

Hoa lá hồn con rồi sẽ tốt tươi.”


Phần 7 :    Khi cánh chim xa đàn

Mùa đông về rồi. Nếu một sáng sớm mùa đông hay vào những buổi chiều hôm , bạn đứng thật yên tĩnh trong khu vườn của nhà bạn hay một nơi nào đó để ngắm nhìn và lắng nghe tiếng chim di trú…Chỉ đứng yên như thế và quan sát cũng là cơ hội quý giá để bạn học từ chúng một bài học xứng đáng...Từng đàn chim én  di cư vào nam tránh rét nơi đất bắc, từng chú chim cùng nhau bay trên một quãng đường dài thành một dãi liên tục.. khi di cư chúng bay cả đàn lớn như vậy nhưng bạn sẽ không tìm thấy đâu là con chim đầu đàn . Đàn chim én là một hợp thể

…Chúng tôi đã bị đánh bật ra khỏi nơi mình đang sống, chúng tôi cũng học bài học ấy từ loài chim én. Chúng tôi có mặt trong nhau và bên nhau trong từng giây phút của sự sống. Chúng tôi cũng là một hợp thể .Chúng tôi  bay đi trú đông và tìm một nơi ấm áp và an toàn để dừng chân và cũng là tiếp tục con đường yêu thương và hiểu biết mà Bụt đã dạy. Phương Bắc đón chào chúng tôi là chùa Phước Huệ thân thương.

Vì  hoàn cảnh, vì điều kiện và vì sự ép uổng từ chính quyền, một số anh chị em chúng tôi bị buộc phải rời xa tăng thân đang tị nạn tại Phước Huệ để trở về nhà. Rời xa huynh đệ, rời xa môi trường sống tu học, rời bỏ khó khăn mà những bạn đồng tu của mình đang gánh chịu. Tôi đã khóc, tôi đã khóc thật sự .

Giọt lệ là một cái gì  rất lạ, nó ứa nơi  đôi mắt xinh xắn nhưng lại làm mềm ở trái tim nóng bỏng . Đôi mắt nhòa đi rồi sáng lên nhưng con tim nhói đau và dâng trào cảm xúc thì phải cần thời gian để chữa lành .Tôi nhớ tới câu  thơ mà Thầy tôi đã viết:‘‘Hãy khóc cho lòng người thêm đẹp ’’

Khóc- theo một quan niệm nào đó-  đó là sự xúc cảm của khổ đau dâng lên đến một cao độ khiến người ta bật lên tiếng nấc, và nước mắt theo đó tuôn trào. Đó là tiếng nói đặc biệt và chính xác nhất của nỗi đau thương khi mà ngôn ngữ không có khả năng để diễn tả nó một cách trọn vẹn được. Theo nghĩa ấy, tôi có thể loại trừ ra những lần trong đời , chúng ta chỉ ứa lệ hay nghẹn ngào qua một phút xúc động nào đó. Và cũng theo nghĩa ấy, tôi biết tôi chưa thực sự khóc bao giờ kể từ khi tôi bước chân vào tu viện .

Ấy vậy mà tôi đã tự lừa dối mình, lừa dối con tim của chính mình, khi gặp đau thương, gặp biến cố lớn của cuộc đời bạn cũng như tôi có thể được khóc mà. Tôi không khóc cho hoàn cảnh hiện tại của mình, mà tôi khóc cho huynh đệ, khóc cho thân phận của con người, của quê hương đất nước .

Công an và chính quyền Bảo Lộc kết hợp với nhau tạo sức ép lên ôn trụ trì, buộc huynh đệ chúng tôi phải rời tăng chúng của mình đang tị nạn tại Phước Huệ ngay trong giữa đêm khuya 29.09.2009 .

Tôi đã tự nhận ra con tim chân thành của mình khi được sống trong chúng. Tình huynh đệ, tình tỷ muội đã làm ấm lại con tim của tôi, chúng tôi sống với nhau bằng con tim chân thành không toan tính. Chỉ chừng ấy thôi cũng đã ghi dấu ấn đậm nét trong tâm hồn của mình. Ấy vậy mà tôi và mười lăm anh chị em bị buộc phải rời xa tổ ấm của mình.

23h45 đêm 29.09.2009 chuyến xe lăn bánh đưa mấy anh chị em tôi đi trong nước mắt. Tôi không dám tin đây là sự thật. Tôi vẫn biết đây không phải là cuộc phân kỳ mãi mãi. Mình chỉ tạm đi,    khi nào tình hình tạm yên lắng thì mình về lại với các anh chị em. Dù biết như vậy nhưng nước mắt cứ chảy tràn. Có lẽ một phật tử nào đó nếu thấy tâm trạng tôi lúc này sẽ thắc mắc “vì sao một người tu mà khóc nhè như vậy? Đi tu mà sao nhiều đau khổ vậy?...” Đừng bảo người tu không được khóc ?

Quãng đường vắng, không một bóng xe, con đường độc đạo từ thị xã Bảo Lộc xuôi về quốc lộ 1A , càng làm cho cảm xúc trong tôi dâng trào. Ngày đau thương 27.09, 28.09, và giờ đây huynh đệ tôi không biết lại phải chịu bao nhiêu khó khăn, càng nghĩ nước mắt lại cứ tuôn trào. Tôi nhớ lời thầy dạy “thở đi con đừng lo lắng”. Tôi thở và quay về trú ẩn bên trong sâu thẳm của yên tĩnh, của bình an của trong sáng và tự do. Để cho khổ đau có cơ hội nở thành hoa trái của tình thương, của hạnh phúc Hơi thở ôm ấp, hơi thở làm dịu đi mọi tâm hành, mọi suy tư, mọi mệt mỏi trong tâm và trong thân thể của tôi . Những thỗn thúc trong lòng, những đau nhức trong thân đang được chở che an toàn bởi hơi thở.  Sau hai ngày thiếu ăn và thiếu ngủ tôi thiếp đi lúc nào không hay trên bờ vai một người bạn đồng tu của mình .

8h sáng 30.09.2009 sau hơn bảy tiếng ngồi trên xe tôi có mặt ở nhà. Quê tôi đây rồi, vẫn còn mẹ còn ba , vẫn là hàng dừa  trước ngỏ! Nhưng tôi còn một quê hương máu thịt nữa đó là anh chị em tôi đang ở Phước Huệ .Khi xa rồi tôi mới thấy thật rõ ràng nỗi đau khi bị bắt buộc phải rời xa tăng thân. Tôi thấy tôi và tăng thân tôi là một cơ thể từ lâu lắm rồi!

May sao tôi có một sư em cùng địa phương về nên chúng tôi có dịp nâng đỡ nhau hơn, chúng tôi dọn tới ở cùng nhau để thuận tiện cho việc tu học khi phải xa chúng. Tôi chuẩn bị rất nhiều tâm lý để đón nhận những sự kiện sẽ đến với mình mặc dầu tôi không biết những biến cố phía trước là gì nữa đây .

Trong những ngày rời xa tăng thân đầu óc và trái tim tôi luôn hướng về anh chịu em tôi đang ở Phước Huệ và và có lúc suy nghĩ vẫn vơ về những tháng ngày êm đềm ở Bát Nhã. Nghĩ đến quý thầy, quý sư cô đang ở chùa Phước Huệ để lo công việc của Tăng thân trong khi tôi vẫn bình an, được ngồi yên ở nhà, cơm ngày ba buổi. .Tôi đi những bước chân thật bình an cho anh em tôi, tôi chế tác những tâm niệm trong lành cho tất cả mọi người Ở đây không có gối ngồi, không có tọa cụ, tôi lấy mền làm tọa cụ. Sáng ngồi thiền xong, tôi ra nhổ cỏ trước sân, còn sư em thì lo thức ăn sáng. Chúng tôi chia phiên nhau nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa. Rõ ràng là tu tập với Tăng thân vẫn hạnh phúc hơn nhiều. Những lúc mình lười biếng nhưng nghe thỉnh chuông đi thời khóa thì mình cứ đi, có năng lượng của Tăng thân, rồi dần cũng trở nên siêng; còn ở đây không ai sách tấn, muốn làm gì thì làm. Tôi sợ  mai mốt mình sẽ hư tâm mất. Tôi chưa biết đối trị như thế nào với tâm giãi đãi đang có trong tôi .

Tôi nhớ các anh chị em tôi như chưa có nỗi nhớ nào bằng. Tôi nhớ lắm! Tôi nhớ xóm Rừng Phương Bối, nhớ các thầy, các sư chú hiền từ dễ thương , Tôi nhớ Mây Đầu Núi, Bếp Lửa Hồng nơi  đó tôi có những người chị, người em, tôi đã có những tháng ngày sống hạnh phúc…

Bây giờ Bát Nhã là miền ký ức rất đẹp, đã trở thành một huyền thoại trong đời. Dù đã trãi qua nhiều bão giông nhưng tôi thấy mình hụt hẫng với những gì vừa xảy đến. Thấy mình như vậy, tôi thương cho các sư em nhỏ của tôi, nỗi đau, và sự vất vả của các em sẽ nhiều hơn tôi gấp bội, bởi các em còn quá nhỏ để đón nhận những nỗi đau này. Nhiều buổi ngồi thiền ở nhà, tôi nhớ thiền đường Cánh Đại Bàng, nhớ những giọng hô canh trầm hùng và sâu lắng. Tôi nhớ lắm, nhớ đến nghẹn ngào !

Hai huynh đệ tôi sau ba ngày nghỉ  ngơi, chúng tôi bàn nhau làm sao duy trì  sự thực tập khi ở  nhà. Kết quả là chúng tôi cùng thống nhất và đưa ra thời khóa làm sao duy trì viết sổ công phu, ngồi thiền đọc kinh, nghe pháp thoại, chấp tác và với thời khóa hẳn hoi như sau :

    3h: thức dậy

    4h30: ngồi thiền, kinh hành, sám pháp địa xúc

    6h30: Ăn sáng

    8h: Tự học

    11h: Ăn trưa

    12h: Chỉ tịnh

    13h30: Thức dậy

    14h: Nghe pháp thoại

    16h30: Ăn chiều

    19h: Ngồi thiền, đọc kinh/ Viết sổ  công phu

Chúng tôi cùng tu với nhau như  một tăng thân nhỏ, không thể  so sánh với thời gian được sống trong đại chúng. Nhưng nhờ có  anh có em cùng tu nên mỗi chúng tôi tìm được bình an trong thời gian ở nhà với gia đình .

Hổ ly sơn hổ bại

Tăng ly chúng tăng tàn

Trong thời gian này tôi càng thấy câu nói mà các bậc cha anh đi trước sâu sắc hơn rất nhiều so với thời gian tôi được cùng tu với đại chúng. Ba mẹ tôi chu cấp cho huynh đệ chúng tôi không thiếu gì về mặt ăn uống và nhu cầu sinh hoạt. Bật tivi lên thì không biết bao nhiêu là chương trình, những chương trình nuôi dưỡng và phù hợp thì ít mà ngược lại thì nhiều. Nếu không biết giữ mình tôi sẽ tự đánh mất rất nhiều khi xa môi trường tu của tăng thân . Tu học mà rời xa tăng chúng thì cũng như cọp lìa rừng.

Những giá trị tu học trong thời gian tôi được ở Bát Nhã thì nay được biểu hiện rõ nét. Tôi thấy mình chưa có nhiều khả năng để sống trọn vẹn trong giây phút hiện tại. Được sống với ba mẹ đó là một cơ hội, ấy vậy mà tôi chưa đủ khả năng có mặt đích thực cho ba mẹ của mình. Trái tim và cả con người của tôi luôn hướng về Phước Huệ .

Bạ mẹ ơi ! Ba mẹ thứ lỗi cho nghen, con đâu có muốn như vậy, nhưng trái tim con giờ đây không còn nhỏ hẹp như ngày xưa nữa. Tình thương của con không còn chỉ dành cho gia đình huyết thống mà con còn dành cho gia đình tâm linh của mình nữa. Con được sống bình yên, được ngủ giường êm, chăn ấm, được sự quan tâm chu đáo của ba mẹ và cô, dì, chú, bác . Trong khi đó tại ngôi chùa Phước Huệ, các bạn đồng tu của con không biết phải chịu bao nhiêu cay đắng từ mọi phía, và đặc biệt là khó khăn đến từ chính quyền thị xã Bảo Lộc. Phật tử tại Bảo Lộc thương anh chị em chúng con lắm, quý vị bảo bọc, lo cho anh chị em của con từng miếng cơm manh áo, họ đâu có muốn đuổi chúng con ra khỏi chùa Phước Huệ. Vậy mà chính quyền Bảo Lộc cho phát loa phóng thanh chỉa vào chùa với ngôn ngữ tráo trẽn “ phật tử chùa Phước Huệ tại thị xã Bảo Lộc yêu cầu tăng thân Bát Nhã mau chóng rời khỏi đây ngay trong ngày hôm nay ”. Công an ngày nào cũng vào hạch sách và muốn đuổi anh chị em ra khỏi chùa, bạn bè thân hữu nghe tin đến thăm thì bị gây khó dễ. Rồi còn biết bao khó khăn khác .

Đầu cúi xuống, xin cho mưa thôi rơi! 
Đầu cúi xuống, hòa theo nhịp đất trời!

Hứng cam lộ rửa bụi trần trôi hết. 
Đâu là mưa ? đâu nước mắt em tôi ?

Có  rất nhiều sư em ở  độ tuổi còn rất nhỏ, các em  nhỏ  về rất nhiều mặt, các em còn hồn nhiên và vô tư lắm. Các sư chú  Pháp Nhi, Pháp Dĩnh, Pháp Hoan và các sư cô Năng Nghiêm, Hoạt Nghiêm, Đôn Nghiêm, Tài Nghiêm.v..v. và còn rất nhiều sư em nhỏ tuổi khác, các em này còn chưa bước qua tuổi mười sáu. Các em có tội tình gì đâu mà phải chịu nhiều cay đắng, nhiều oan nghiệt đến như vậy ? Hay đó cũng là cơ hội để chúng tôi được thử thách tình thương và sự hiểu biết trong tâm mình.

Ba mẹ ơi ! Các anh chị  em con còn đang bị kẹt trong tình huống như  vậy thì làm sao con lại không nghĩ về họ được. Ân nghĩa sinh thành và dưỡng nuôi của ba mẹ con trọn đời khác ghi, và ân nghĩa với thầy tổ và huynh đệ đã cho con một con đường đẹp một cách sống chân thật cũng lớn lao như ân nghĩa đối với ba mẹ vậy. Con được học và con cũng đã tự chiêm nghiệm nên thấy được rằng, con đã đi tu và cách báo hiếu của người tu là sống sao cho thật đẹp và chân thật, chuyển hóa được nỗi khổ niềm đau. Có những giá trị ấy trong con người của mình rồi giúp ba mẹ cùng tu để thấy được và nhờ con tu, ba mẹ cùng tu nên mỗi chúng ta đều có được bình an trong tự thân. Đó là cách báo hiếu của người tu thôi ba mẹ à ! Cho con hôn lên đôi má gồ ghề sạm nhăn của ba mẹ. Thương ba mẹ nhiều !

Chúng tôi là con sóng của biển cả  bao la, là dòng sông, là nước,  là đàn én mùa xuân. Chính quyền và công an Bảo Lộc muốn xé lẽ chúng tôi. Qúy vị đã thành công về mặt hiện tượng,  một số anh chị em như tôi đã phải rời xa chúng, rời xa nơi cư ngụ mà giá trị con người, giá trị tâm linh, giá trị của tình yêu quê hương đất nước luôn được đề cao. Nhưng về mặt bản thể làm sao quý vị có thể tách rời chúng tôi ra được. Làm sao mà quý vị có thể tách rời con sóng ra khỏi biển cả, làm sao có thể lấy đi tình yêu quê hương nước Việt, làm sao cản bước đàn én bay về phương nam, làm sao có thể lấy đi cách sống chân thật nơi mỗi chúng tôi . Anh chị em tôi không hề hờn oán hay đổ lỗi cho bất cứ ai. Nhưng mỗi anh chị em tôi đều là con dân nước Việt, chúng tôi có quyền được tu chung với nhau chứ. Chúng tôi có quyền được sống một cuộc sống chân thật và giản dị. Được cất lên tiếng hát trong bình minh nắng sớm, trong đêm trăng hiền dịu . Được quyền xây dựng những giá trị nhân văn của cha ông để lại, khôi phục lại bản sắc văn hóa dân tộc . Qúy vị không đúng cũng không sai và chúng tôi cũng không tự cho mình là đúng hay là sai ? Nhưng quý vị có trái tim, quý vị hãy để cho trái tim được nói tiếng nói chân thật của lòng vị tha, của xúc cảm trong mỗi con người. Qúy vị có khối óc, hãy để cho khối óc tư duy để thấy được những giá trị trong cách sống của kiếp người .

Nguyện cầu cho anh chị em tôi đang ở Phước Huệ và những anh chị em bị tản cư về nhà, có đủ kiên cường và dũng khí để vượt qua khoảng thời gian mà khó khăn và giông bão luôn luôn rình rập .

Đêm nay cầu cho khổ đau trái kết hoa thành 
Cho sinh diệt đi ngang dòng pháp thân bất diệt 
Cho suối tình thương chảy tràn trên vạn lòng tha thiết 
Để loài người học tiếng nói chân như 
Để tiếng nói trẻ thơ thành giọng chim ca .

Người viết : Thích Quảng Kim, Thích Tâm Hỷ, Thích Tâm Lạc

Phần 8 : Con đường không đứt đoạn

Phần 6: Bàn Tay Bồ Tát.

Trong đợt dùng hàng loạt xe Taxi chở  các thầy xóm Rừng Phương Bối ra khỏi tu viện Bát Nhã trong đó có hai chiếc Taxi chở mười ba thầy đến thị xã Bảo Lộc thì chạy về hướng Tp. Hồ Chí Minh. Đến Đại Lào (cách đèo Bảo Lộc 2km) thì xe dừng lại, các thầy thoát ra khỏi xe. Đến 18h00’ các thầy tìm về chùa Phước Huệ, thị xã Bảo Lộc.

Trên con đường dài chúng tôi tiếp tục bước đi, mái chùa Bát Nhã khuất dần trong đêm tối. Một số sư chú vì kiệt sức không thể đi được nên thỉnh thoảng mấy anh em dừng lại nghỉ chân bên lề đường. Khi đỡ mệt, huynh đệ tôi lại đi, đi về phía trước nhưng không biết về đâu. Các Sư chú nhỏ thì thầm với nhau: “Không lẽ mình phải ngủ ngoài đường trong cơn mưa gió?”. Điều này cũng có thể xảy ra, nhưng chúng tôi không tuyệt vọng. Huynh đệ vừa đi vừa niệm thầm danh hiệu Bồ Tát Quan Thế Âm, vì trong những lúc khó khăn khổ nạn chúng tôi thường niệm danh hiệu ngài nên có niềm tin tuyệt đối vào sự che chở của ngài. Chúng tôi tin Chư Tôn Đức không nỡ bỏ chúng tôi, các ngài sẽ dang rộng cánh tay cứu giúp.

    • Bị  người dữ đuổi chạy

    • Rơi xuống núi Kim Cương

    • Niệm sức mạnh Quan Âm

    • Không hao một mảy lông

    • Bị  oán tặc vây hãm

    Cầm đao thương sát hại

    • Niệm sức mạnh Quan Âm

    • Oán tặc thấy thương tình.

    • (Kinh Sức Mạnh Quan Âm)

Huynh đệ vượt qua một đoạn đường trong tình trạng đói lã, lạnh cóng, có nhiều thầy ngã bệnh. Điều mầu nhiệm đã xảy ra, lúc 21h03 nhiều Phật tử Bảo Lộc biết được tình hình nên đặt xe bus đưa chúng tôi đến chùa Phước Huệ nghỉ qua đêm. Nếu không nhờ những chuyến xe bus này, chắc chắn trên đường sẽ có nhiều thầy ngất xỉu vì đói lạnh. Con đường quanh co hẻo lánh, lác đác vài ngôi nhà nằm ẩn sau vườn cà phê. Bất chợt xe Bus dừng lại trước trụ sở UBND xã Đambri, nhìn vào Ủy Ban chúng tôi thấy có nhiều người mặc sẵn áo mưa từ bên trong vội vã chạy ra khóa cổng (?). Ủy Ban xã với huynh đệ tôi không xa lạ gì vì nơi đây chúng tôi thường được quan tâm đặc biệt. Bổng nhiên hôm nay chúng tôi có cảm giác lạ lạ, biết đâu hai sư anh chúng tôi vẫn còn ngồi đó!

Ngồi kề tôi là một sư  chú có trách nhiệm lo công việc cho đại chúng nên được sử  dụng điện thoại di động. Tiếng chuông điện thoại reo vang! Sau ba hơi thở vừa là sự thực tập của chúng tôi nhưng tiếng chuông trong lúc này đây quý giá đến vô cùng , để ý hoàn toàn cả thân và tâm vào hơi thở khi nghe chuông, làm cho nhiều huynh đệ chúng tôi an tĩnh tinh thần sau một ngày sóng gió vồ vập. Bên kia đầu dây là phóng viên của một cơ quan báo chí hỏi về tình hình của tăng chúng. Sư chú trả lời mà dòng lệ tuôn trào vì sự việc xảy ra cho đệ huynh của mình quá tang thương, còn các sư anh lớn như T Pháp Hội, T Pháp Sỹ không biết đã bị công an đưa đi đâu, trong khi đó thì T Pháp Tụ bị mất tích trong đêm hôm mưa gió.

Nhưng may thay nhờ ân đức của liệt vị tổ sư, sự thương tưởng của quý phật tử và sự bảo bọc nhau trong tình đệ huynh, anh em chúng tôi đã ra đến chùa Phước Huệ bình an.

“Đêm nào ta trở về ngôi

Hồn thơ  sẽ hết luân hồi thế  gian

Một phen đã nín cung đàn

Nghĩ  chi còn mất hơi tàn thanh âm!”

Về tới chùa Phước Hụê, chúng tôi được ôn Phước Huệ và Phật tử  từ bi che chở. Trước những tấm lòng thương yêu, huynh đệ tôi cảm thấy ấm lại sau một ngày bị đánh đuổi nhọc nhằn. Ôn cho ăn mì gói, ôn lấy quần áo của mình cho huynh đệ tôi thay. Các cô chú Phật tử đem áo ấm, bàn ủi vào giúp các thầy bớt lạnh. Vì chúng tôi đông quá nên tạm thời nhiều huynh đệ vẫn giữ nguyên y phục thấm nước ngủ qua đêm. Những hình ảnh hổn loạn, đánh đập, chửi mắng trong ngày qua trở thành nỗi ám ảnh làm huynh đệ tôi không thể nào ngủ được, phần vì lo ngại cho tình trạng hai sư anh vừa bị các anh công an áp tải lúc chiều.

Bảo Lộc ngày 28.9.2009

Dưới sức ép của chính quyền  địa phương: “ Các sư  cô phải dọn đồ rời khỏi tu viện Bát Nhã trước 5h sáng”. Vì vậy tại xóm Bếp Lửa Hồng lúc 4h, dù chưa hết mệt nhọc nhưng các sư cô đã thức dậy rất sớm để bàn bạc giải pháp là mỗi người về thăm nhà từ một tuần đến một tháng, sau đó liên lạc với Tăng thân, khi có điều kiện thì tập hợp lại sau. Mọi người ghi tên, địa điểm để các sư cô đăng ký xe đi theo.

Lúc 5h hai xóm Mây Đầu Núi và  Bếp Lửa Hồng thu dọn những đồ còn lại sơ tán ra khỏi Bát Nhã, một số  đồ mang theo, một số di chuyển  bằng xe đến nơi an toàn nhờ người quen giữ giúp. Trong lúc này nhiều người lạ mặt xuất hiện, họ ngang nhiên chở chậu hoa, vào tăng xá ni xá lấy những vật dụng mang về nhà. Vài sư cô lên xóm Mây Đầu Núi và thiền đường Cánh Đại Bàng thu dọn đồ thì bị nhóm người này (đàn ông, phụ nữ) rượt đuổi hăm dọa. Lúc 9h chú Đồng Thanh dẫn một nhóm người đi xuống Bếp Lửa Hồng. Khi thấy các Sư cô đang dọn đồ thì chú quát: “Tụi bây đi khỏi chổ này nhanh, chứ không tao chặt đứt chân!”. 10h xe tải vào chở đồ để đi gởi một số nơi, một chiếc xe chở thức ăn khô của xóm Mây Đầu Núi bị cướp giữa đường.

Đến trưa, phần lớn các thầy và sư cô tập trung tại chùa Phước Huệ. Chư Tôn Đức từ Tp. Hồ Chí Minh (Hòa Thượng Thích Minh Nghĩa, Sư bà Tịnh Nguyện, Sư bà Tịnh Bích, và một Sư bà…) lên thăm huynh đệ chúng tôi.

13h30’  Chư Tôn Đức từ  TP. Đà Lạt xuống thăm, an ủi động viên. Ông Lành (chủ tịch mặt trận thị xã Bảo Lộc) phát biểu: “ Sự việc xảy ra tại tu viện Bát Nhã là điều đáng tiếc, mong thầy trụ trì chùa Phước Huệ tiếp tục giúp đỡ, cưu mang các tu sinh”.

15h30’  quý Ôn ra về, sau đó chính quyền thị xã Bảo Lộc yêu cầu họp với Tăng thân và thông báo các tu sinh sắp xếp dọn đi càng sớm càng tốt. Đại diện chính quyền huyện Bảo Lâm đến chùa Phước Huệ kêu gọi các thầy cô về lại địa phương (kéo dài 3-4 lần)  Ngoài cổng chùa có khoảng 10 mười anh công an túc trực làm nhiệm vụ.

Những khó khăn, bất công, bạo quyền luôn còn đó và nó luôn tồn tại dưới bất kì xã hội nào. Hằng ngày, hằng giờ, chính quyền địa phương tại Bảo Lộc cũng như ở nhiều tỉnh thành trong nước (Tây Ninh, Đăk Lăk, Quảng Trị, Đồng Tháp, Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Hà Nội, v.v…) với nhiều hình thức trực tiếp, gián tiếp vận động, thuyết phục, gây nhiều áp lực tác động lên gia đình nhằm mục đích chia rẽ phân tán các thầy cô về địa phương.

Thực tế, có một vài sư chú và sư cô vì lý do trên nên không còn cách nào khác, đành xa lìa Tăng thân để theo gia đình về quê. Có một sư cô trước khi rời Phước Huệ để về Hà Nội đã khóc rất nhiều trước áp lực của người anh trai. Số đông huynh đệ tôi được ở lại nương tựa vào chùa Phước Huệ để tu tập trong thời gian rất hạn chế trong lúc chưa có một giải pháp thấu tình đạt lý! Một giải pháp cũng gọi là “thấu tình đạt lý” mà kết quả là vào ngày 27.9 chúng tôi bị đánh bật ra khỏi tu viện Bát Nhã. Những nguyện vọng chính đáng mà chúng tôi thỉnh nguyện nhiều lần vẫn chưa được đáp ứng trong lúc áp lực từ chính quyền ngày một gia tăng. Nhưng chúng tôi vẫn kiên nhẫn chờ đợi và tin tưởng vào những vị lãnh đạo đất nước, các vị sẽ nhìn lại để che chở cho những mầm non của dân tộc mình.

Dù  tình thế nhiều khó khăn, hiện tại huynh đệ vẫn được tu chung với nhau trong thời gian lưu trú tại chùa Phước Huệ, đây là một may mắn lớn. Chúng tôi biết chư Tôn Đức và ôn Phước Huệ vì lòng thương tưởng đến con cháu mà chịu đựng rất nhiều khó khăn để che chở cho huynh đệ chúng tôi. Ân nghĩa này sâu nặng. Dù gắng sức tu tập trọn cuộc đời chúng tôi vẫn không thể nào báo ơn hết được.

Tu viện Bát Nhã đi vào huyền thoại. Chùa Phước Huệ hiện thân như con thuyền của một vị Bồ Tát lướt trên sóng gió thế gian để cứu độ chúng tôi. Chư Tôn Đức tỉnh Lâm Đồng, Chư Tôn Đức tỉnh Bình Định, quí thầy cô trường TCPH Tp. Đà Lạt và nhiều ân nhân Phật tử khắp nơi đang tiếp nối những cánh tay của đức Bồ Tát Quan Thế Âm trong hạnh nguyện mắt thương nhìn thế gian. Nhờ vậy huynh đệ tôi được tiếp thêm nguồn năng lượng tâm linh để vượt qua nhiều khó khăn đang ập tới.

        • “Trí phương tiện quảng đại

        • Đầy đủ sức thần thông

        • Mười phương trong các cỏi

        • Không đâu không hiện thân”.

(Kinh Sức Mạnh Quan Âm)

Người ta có thể dùng quyền lực để truy bức, đàn áp, đánh đuổi chúng tôi ra khỏi Bát Nhã hay bất cứ nơi nào trong đất nước, nhưng không thể dùng quyền lực bắt chúng tôi phải từ bỏ tình huynh đệ, từ bỏ lý tưởng xuất gia mà chúng tôi đã chọn. Vì lý tưởng và tình huynh đệ là sự sống của chúng tôi. Người ta có quyền dùng bàn tay để che lấp sự thật  nhưng không thể dùng bàn tay để che lấp bầu trời.

Những sự việc đau thương xảy ra cho Tăng Ni tại Bảo Lộc, tỉnh

Lâm  Đồng trong những ngày qua vẫn còn nhiều điều chưa kể!…

        • Thất Hải Triều, Bình Thuận 20.10.2009

Người viết: Thích Quảng Kim, Thích Tâm Hỷ, Thích Tâm Lạc.

Phần 7: Khi Cánh Chim Xa Đàn


Phần 5: Ra Đi Trong Đêm

Ngày hôm  ấy đã qua, huynh đệ tôi đã bị đánh đến ngất xỉu, chảy máu, nhưng không một ai bị thương nặng. Đây thật là may mắn lớn. Không biết sau khi thực hiện thành công việc truy đuổi chúng tôi, có giây phút nào những người này  nghĩ lại việc mình đã làm? Ân hận xót xa hay vui cười mãn nguyện? Cho dù tâm ý phát sinh chiều hướng nào, lương tâm vẫn có tiếng nói riêng. Người ta có thể che dấu hay bưng bít tất cả, có thể đổi trắng thành đen như trở ngược bàn tay, có thể làm những gì hơn thế nữa.v.v.. nhưng sự thật vẫn là sự thật! Tòa án lương tâm phân xử rất công minh. Nhắc tới sự kiện này niềm đau cùng với sự xót thương trong lòng chúng tôi phát khởi. Vết thương này không riêng cho huynh đệ chúng tôi, không riêng cho một xã hội mà còn là nỗi đau thống thiết mà kiếp người phải mang theo.

Tu Viện Bát Nhã, ngày 27.9.2009.

Cũng với hình thức đập phá, vào lúc 13h00’ một nhóm thanh niên gồm sáu người tay cầm chổi, dao rựa xông vào đập vỡ cửa kính thiền đường Tâm Bất Động. Nhóm người này tiếp tục đi đến các phòng tầng dưới ni xá Liễu Xanh, vì có cửa sắt bên trong không thể xông vào nên họ tiến lên tầng trên, tầng này cửa kính có khung làm bằng gỗ. Khi hay tin xóm Rừng Phương Bối bị tấn công, các sư cô đã kịp dồn xuống tầng dưới từ trước nên bây giờ trên tầng hai không còn ai. Họ lao vào đập đồ đạc lần lượt từng phòng. Không thấy có người nên họ đi xuống tầng dưới, la lối, chửi bới và đập cửa xe đang đậu gần đó. Nhóm thanh niên tiếp tục ra ni xá Phượng Vĩ đập phá với mục đích dồn các sư cô ra bên ngoài như hai xóm trên (Rừng Phương Bối, Mây Đầu Núi).

16h00’, Huynh đệ chúng tôi bị lùa ra đến vườn rau như lùa đàn vịt con. Rất nhiều người đàn ông xông vào tìm các thầy lớn để truy bắt. Không hiểu vì sao họ phải truy bắt những sư anh của chúng tôi? Huynh đệ tôi như một đàn chim nhưng không riêng một con chim nào là đầu đàn, tất cả đều nương nhau để tu tập, không ai lãnh đạo ai. Nếu có lãnh đạo, thì vị trí đó là chánh pháp và giới luật mà thôi.

Một anh công an thị xã Bảo Lộc tên là  Trình dẫn theo một anh công an khác, anh Trình đến chỉ mặt thầy Pháp Sỹ  để các công an bên cạnh nhận diện. Sau đó anh Trình lui ra, nhưng anh công an còn lại bám sát tiếp cận thầy Pháp Sỹ để vây bắt. Không biết làm cách nào để che chắn cho sư anh trong lúc chúng tôi bị bao vây bốn phía, và lần này có rất nhiều anh công an tham gia. Sự bất công mỗi lúc thêm nặng nề, huynh đệ tôi đưa thầy Pháp Sỹ vào đứng ở giữa, tất cả các sư cô đứng vòng ngoài.

Bóng đêm đang chìm xuống, mưa bên ngoài rã rít từng cơn, trong khung cảnh của ngày qua với quá nhiều biến động, quá nhiều bạo lực vây bủa chốn thiêng liêng này, chúng tôi đứng lại gần nhau thành một khối. Đứng bên nhau như là phương tiện cuối cùng để bảo vệ nhau trước bạo lực. Trong tâm trạng xót thương, chúng tôi tự hỏi: chuyện gì sẽ tiếp tục đây? Rồi họ bao vây lùa chúng tôi ra dần ngoài cổng… Ngoài đường một chiếc xe biển số xanh mở cửa chờ đợi… Các anh công an bên ngoài đang đi vào cổng, khi đó chúng tôi thấy có anh Trần Thiện Thuật (trưởng công an xã Đambri), anh Thuật chen người vào trong anh em chúng tôi, anh nói:“ Cơ quan công an mời thầy Pháp Sỹ ra UBND xã Dambri để làm việc. Mời thầy cộng tác với chúng tôi”.

Giờ  này thật sự chúng tôi không còn chút sức lực nào  để mà cộng tác. Huynh đệ tôi bị đánh đập, chịu đựng đói lạnh suốt cả ngày, nên mất rất nhiều niềm tin về cách thức cộng tác mà các anh công an đề nghị. Chúng tôi nghe thầy Pháp Sỹ trả lời: “ Bây giờ tôi rất mệt, không đủ sức cộng tác cùng các anh. Anh chị em tôi đang gặp nạn nên tôi không thể đi được. Các anh thông cảm”. Rất đông công an vây chặt thầy, một anh mặt thường phục quát lên: “Đừng nói nhiều. Vào kéo ổng đi!”.

Thầy Pháp Sỹ đã bị các anh công an áp tải lên xe vào khoảng 4h30’. Họ chở thầy Pháp Sỹ đi rồi, một lúc sau khoảng mười anh công an lao vào khống chế thầy Pháp Hội và lôi thầy ra cổng để lên xe. Vẫn là những chiếc xe đang mở cử đợi chờ. Thầy Pháp Tụ cũng bị truy tìm ráo riết. Các sư anh lần lượt bị công an bắt để “cộng tác làm việc”, huynh đệ tôi thật đau lòng vì không biết họ bắt các thầy đi đâu? Một số sư chú chạy vào cản lại bởi vì không biết họ tiếp tục hành xử như thế nào với những sư anh mà chúng tôi đã rất kính trọng và tin cậy thì các sư chú ấy bị kéo ra đánh đấm. Thầy Pháp Lâm cũng bị truy bắt nhưng thoát được vì họ nhầm lẫn thầy Pháp Lâm là thầy Pháp Tụ.

Kể  từ đó đến nay chúng tôi không gặp  được các sư anh nữa. Nghe nói sau khi bị  làm việc ở UBND xã Đambri, đến 21h00’ công an dùng hai chiếc xe Taxi trục xuất các thầy và trực tiếp đưa về địa phương quản lý, thầy Pháp Tụ thì đã bị mất tích, an nguy của thầy ra sao trong lúc này. Cũng trong đêm này chúng tôi liên lạc được với thầy Pháp Sỹ trong lúc thầy đang ngồi trên xe cùng với bốn anh công an, thầy nói: “Các sư em yên tâm, sư anh đi với bốn anh công an nên không sao đâu! Sáng mai là có mặt ở Khánh Hòa rồi”. Chúng tôi hỏi thêm vì sao các anh công an không cho thầy về lại Tăng thân, thì thầy trả lời: “Không biết! Nghe mấy anh công an nói đưa sư anh với thầy Pháp Hội về là để đảm bảo an toàn tính mạng, sợ người xấu tấn công các thầy. Trong lúc làm việc lúc thì các anh tra hỏi đủ thứ chuyện, nhưng khi đi đường các anh cũng lịch sự dễ thương”. Còn về thầy Pháp Hội chúng tôi không liên lạc được vì điện thoại của thầy bị đập trong trưa hôm đó.

Chuyến xe chở thầy Pháp Hội rời khỏi tu viện, thầy ra đi không mang theo một thứ gì ngoài y phục đang mặc trên người nhưng đã thấm ướt. Sau khi xe vừa lăn bánh, một anh công an đại diện cho ban công an xã Đambri nói: “Chỉ cần những Thầy này đi làm việc với chính quyền thì mọi việc sẽ ổn thỏa, các cô sẽ được vào lại xóm mình". Mọi việc ổn thỏa như thế nào đây? Thực tế, sự việc vẫn không có gì ổn thỏa, các thầy các sư cô vẫn bị cô lập, đứng chân đất đầu trần ở ngoài mưa lạnh. Nhóm người này vẫn tiếp tục chửi bới, canh chừng, khóa cổng Mây Đầu Núi, không cho các sư cô vào ni xá.

Khoảng 17h00’, Ban công an xã Đambri lập một thông báo tại chỗ với nội dung:"Yêu cầu các (Phật tử) mở cổng cho các sư cô vào xóm". Sau khi thông báo mở cổng được ban công an đọc lên thì tình hình ngược lại nhóm người này lấy dây điện buộc thêm vào cổng. Trời mưa lạnh buốt, khí lạnh của sứ cao nguyên đã bao phủ nơi đây. Trời tối đen như mực, anh chị em tôi đứng yên kiên nhẫn  ngoài trời rất lâu, chúng tôi vẫn chờ đợ, chờ đợi tiếng nói của lương tri của tình người thức dậy. 18h30’ các sư cô đành phải xách hành lý đi về xóm Bếp Lửa Hồng để tạm nghỉ qua đêm, còn các thầy đi bộ ra chùa Phước Huệ (Thị xã Bảo Lộc) trong tình trạng mệt lã, đói lạnh.

Các thầy  đi bộ từng bước yên tĩnh trong đêm mưa gió bão bùng, gió thấm lạnh từng cơn trên đường lại không có lấy một chuyến xe. Chúng tôi vẫn tiếp tục đi  dù đêm nay không có một chút ánh sáng của trời đất, dù bạo động và căm thù đổ đầy trên đôi vai còn non nớt và thơ trẻ của chúng tôi bởi vì chúng tôi vẫn có lý tưởng để đi tới  ``Đầu tôi cúi xuống nhưng tình yêu thương như hai vầng nhật nguyệt sẽ vẫn còn soi bước cho tôi…Hãy rót cái nhìn dịu hiền dù không ai hay biết``  Từng bước,từng bước huynh đệ tôi dìu dắt nhau trên con đường dài mười lăm cây số. Đây là đường độc đạo chạy ngang qua trụ sở UBND xã Đambri đưa chúng tôi về sum họp dưới mái chùa Bát Nhã, và đêm nay cũng con đường này đưa chúng tôi rời xa mái chùa thân thương ấy.

Bát Nhã  đến và đi như giấc mộng nhưng nỗi  đau thương vẫn để lại ngàn đời.

    • Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc

      • Lắm sắc tài sao quá truân chuyên?

      • (Chế  Lan Viên)

Người viết: Thích Quảng Kim, Thích Tâm Hỷ, Thích Tâm Lạc.

Phần 6: Bàn Tay Bồ Tát.



Phần 4: Gối Nhẹ Mây Đầu Núi.

Nguồn năng lượng lớn lao tiếp sức cho chúng tôi là  sự che chở từ  chư Tôn Đức và  những ân nhân có mặt khắp nơi. Nếu không được tiếp nhận những nguồn năng lượng thương yêu này, chúng tôi không đủ sức đối diện chịu đựng mọi hiểm nguy đang đến. Lòng từ bi của các thế hệ tổ tiên tâm linh, biểu hiện qua nhiều hình thức, trực tiếp hay gián tiếp, trong mỗi giây phút đều che chở cho chúng tôi.

Nhiều người lên tiếng ngợi ca tán thán, huynh đệ tôi cúi đầu biết  ơn nhưng không cảm thấy tự  hào vì ý thức rằng chúng tôi là  thế hệ cháu con, tất cả  những hùng lực mà chúng tôi có  được là tiếp nhận từ  chư Tôn Đức và  tổ tiên tâm linh của mình. Mặc khác, chúng tôi cảm thấy đau thương không chỉ riêng cho hoàn cảnh mình đang đối diện, mà còn đau thương hơn khi nhìn thấy một vết nhơ đầu tiên in đậm trên trang sử Phật Giáo. Niềm đau bởi vết thương này biết đến bao giờ tan biến?

Tu Viện Bát Nhã 12h30’ ngày 27.9.2009

Vậy là  qua một giờ các Sư  cô xóm Mây Đầu Núi gặp nạn. Chúng tôi cũng bị  bao vây nên không biết làm cách nào  để có mặt bảo vệ  cho những sư chị sư  em của mình. Cầu nguyện ai đó  đang đập phá  chưởi mắng, xin trong tâm còn chút từ bi, đừng có hành vi thô thiển xúc phạm nữ giới.

Những gì xảy ra ở Rừng Phương Bối lại xảy ra cho Mây Đầu Núi, chỉ khác một chuyện là  các Sư cô chưa bị  bắt lên xe trong khi một chiếc xe Bus chạy  đến ngừng trước cổng. Cơm vừa nấu xong, dọn  lên bàn ăn được vài muỗng thì tin dữ ập đến, chỉ kịp thu xếp y bát, giấy tờ tùy thân, tất cả sư chị sư em vào phòng khóa cửa ngồi xuống niệm Phật. Trưa nay các Sư cô nhịn đói. Khoảng chín thanh niên mặt áo mưa, bịt khẩu trang, tay cầm gậy gộc xông vào tầng dưới la hét hăm dọa: “ Các cô ra mau! các thầy bị đuổi đi hết rồi, không còn ai ở đây nữa đâu!”. Sư chị, sư em tôi vẫn ngồi yên, tiếng niệm Bồ Tát Quan Thế Âm vang cao vút tới mây nhưng tiếng đập phá càng thêm dữ dội. Họ dùng gậy gộc đập nát những khung cửa kính, tất cả  vật dụng trong phòng cùng chung số phận. Họ vừa đập, vừa quát: “Chúng mày có ra không thì bảo?”, hết phòng này đến phòng khác, xong tầng dưới tiếp tầng trên, những người thanh niên này có ý thức được họ đang cậy sức mạnh nam nhi để áp chế nữ giới?

Khi đập kính, bàn tay của một số  thanh niên bị chảy máu, đáng thương lắm! Thấy vậy, các sư  cô đi tới băng bó vết thương cho người vừa  đập phá. Vết thương được băng xong, họ  tiếp tục lao vào la hét  đập phá. Máu trên thân thể  huynh đệ chúng tôi đã  rướm ra, máu trên hai bàn tay của người đập phá tươm chảy, nỗi đau đớn trên thân thể gần giống nhau nhưng hai nỗi đau ấy lại cách xa: niềm thương, vô cảm.

Bước chân vội vã của những người phụ  nữ từ xóm Rừng Phương Bối chạy lên, dồn dập gấp gáp như muốn hoàn tất việc tấn công các sư cô trong thời gian ngắn nhất. Bằng miệng lưỡi, họ chửi mắng, hò hét để uy hiếp tinh thần. Những căn phòng trong Mây Đầu Núi tiếp tục bị đập phá, vài máy vi tính nằm lăn lóc trong tàn phá của cơn bão si mê. Trước sự truy bức đe dọa của hàng loạt người hung bạo, các sư cô bị đánh bật ra sân không kịp lấy hành lý. Vài sư cô đi ngược lên cầu thang vào phòng lấy y áo cũng bị nhóm người này ngăn cản, xô đẩy xuống phía dưới. Một sư cô vào được trong phòng, nhanh nhẹn lấy đồ dùng cần thiết chợt nghe tiếng người đàn ông đang gọi điện thoại bên ngoài: “ Chào đồng chí Chánh! Báo cáo đồng chí, chúng tôi đã đuổi được các cô ra ngoài, một số đang thu dọn đồ”. Ông Chánh được xưng hô qua điện thoại có phải là ông Chánh chủ tịch xã Đambri?

Ngoài hiên nhóm người phụ nữ la hét xô đẩy các sư cô ra sân, bên trong các thanh niên đập phá. Văn phòng làm việc bị đập nát máy vi tính, nhúng nước máy in, két sắt cũng biến đi đâu mất. Một số dụng cụ may vá được các sư cô chuyển xuống dưới sân cũng bị những người phụ nữ  lấy đi. Họ dồn các sư chị, sư em của chúng tôi ra hết ngoài sân, có người chưa kịp mang theo một thứ gì. Trời mưa lớn, không thể chịu đựng cái lạnh trong cơn mưa dầm nên các sư cô đi vào mái hiên thì họ xông vào xô các cô ra mưa, quăng hết túi xách ra ngoài. Một sư em nữ bị đau chân không đi được nên các sư cô cổng xuống, vậy mà họ cũng xấn tới đập đuổi.

Bao nhiêu bạo hành dồn dập bủa vây, chúng tôi không biết kêu ai, gọi ai để cùng chứng kiến cảnh tượng đầy bất công trong mái chùa thân thương, trong miền Đambri rừng rú. Người ta đành lòng đối xử với chúng tôi bằng những hành động tương đương xã hội thời tiền sử (săn bắt, hái lượm). Và không lẽ chấp nhận cách hành xử này là giải pháp thấu tình đạt lý? Chúng tôi là nạn nhân lạc loài trong một thế giới hết sức xa lạ bất thường.

Thời  điểm này tại xóm Rừng Phương Bối, huynh đệ tôi ngồi với nhau thành hình tròn nhưng bị  họ cắt chia thành mãnh vụn. Một thanh niên mặt  áo ấm màu đen xông vào  đánh các thầy tới tấp, ông dùng tay bóp cổ, cùng với số phụ nữ khác lôi các thầy lên xe. Thầy Pháp Nhàn bị một người cao to trong nhóm quăng lên mặt kính trước xe, thầy lăn xuống và bị quăng lên đến mấy lần.

Thầy Pháp Sỹ vừa thoát ra từ  những bàn tay hung dữ, chưa kịp ngồi xuống, một thanh niên khác tung nắm đấm vào miệng của thầy nhưng anh kịp dừng tay nên ra đòn nhẹ. Sau đó họ bắt thầy lên xe, khóa chặc cửa trước cho xe chạy. Trên chuyến xe này, ngồi bên cạnh các sư chú là một thanh niên có nét mặt nghiêm nghị  lạnh lùng. Các sư chú hỏi anh là ai? Vì sao có mặt cùng lúc với chúng tôi trên xe để làm gì?Anh trả lời là công an thị xã Bảo Lộc. Nói xong, anh ra lệnh cho tài xế quay xe rẽ vào đường tắt tiến ra thị xã. Chú tài xế lưỡng lự không biết phải như thế nào khi biết mình không thể tiếp tay cho việc làm nhẫn tâm, chú cho xe dừng lại, mở cửa cho các thầy thoát ra ngoài. Chú tài xế nói với các thầy: “Con xin các thầy thông cảm, nghe công ty điều hành  gọi xe vào đây để chở khách, khi vào đến nơi thì con mới biết các thầy đang gặp nạn, họ lừa con để dùng xe đuổi các thầy đi”. Sư chú hỏi thêm: “ Biết vậy sao anh không chạy xe về, còn mở cửa xe để cho họ áp tải?”. Chú tài xế trả lời: “Con quay xe về không được, lúc đó con bị ép vì họ nói đây là chỉ thị của thị xã. Nhưng con thấy lúc đó các thầy có cưỡng lại cũng không được, tình trạng sẽ căng thẳng thêm, con chở các thầy ra ngoài đường để các thầy xuống xe thôi!”.

Từng chiếc Taxi chở huynh đệ tôi chạy ra cách tu viện không xa liền dừng lại cho chúng tôi xuống. Nhưng cũng có  một vài Taxi sợ áp lực của công an nên chạy thẳng. Trên đường xuất hiện Cảnh Sát Giao Thông đang làm nhiệm vụ, có mặt rất nhiều thanh niên, họ không cho Taxi dừng lại. Những thầy nào nhảy từ trong xe ra liền bị nhóm thanh niên này nhào tới đánh đập, đạp xuống rãnh nước hai bên đường. Huynh đệ tôi vẫn cố gắng quay trở lại tu viện để bảo vệ nhau dù đang bị người khác rượt đuổi. Khoảng bốn mươi Thầy và sư chú bị xe chở ra ngoài tu viện đang tìm cách về xóm Mây Đầu Núi. Trong xóm Rừng Phương Bối họ vẫn tiếp tục đánh đập khống chế các thầy.

Hơn nữa ngày trôi qua tình trạng bạo hành vẫn chưa  được can thiệp, chấm dứt. Mưa suốt cả  ngày, thân thể huynh đệ tôi mệt nhoài, đuối sức. Chúng tôi nhìn nhau nhưng không đủ sức nói thêm lời nào. Trong ánh mắt thân thương, chúng tôi hiểu mình phải cố  gắng kham nhẫn chịu đựng, dù ai đó nhẫn tâm bức hại thân mạng, dù kiệt sức ngã quỵ thì chấp nhận chết mà không bao giờ oán giận.

15h00’, một chiếc xe ToYoTa màu trắng mười hai chỗ  ngồi, biển số xanh, từ  hướng xã Đambri chạy về  tu viện (phía xa xuất hiện bóng dáng bốn anh công an thôn, tay cầm roi điện, điều khiển hai xe gắn máy chạy thật nhanh như sẵng sàng cơ động truy bắt tội phạm cứu dân lành). Xe chạy ngang qua nơi chúng tôi đứng trú mưa thì dừng lại, trên xe bước xuống một người đàn ông khoảng năm mươi tuổi. Gương mặt ông khá sáng, tóc hoa râm rẽ mái, tiếng nói sang sảng dứt dạt, thỉnh thoảng lắng dịu ngọt ngào. Nhìn qua chúng tôi biết đây là một cán bộ già dặn, rất chuyên môn trong công tác tuyên truyền. Ông tự giới thiệu: “ Tôi là Phó Chủ Tịch Mặt Trận thị xã Bảo Lộc. Tôi hay tin (Phật tử chùa Bát Nhã) đánh đập các thầy nên vào can thiệp kịp thời. Trong số các thầy ai là người đại diện thì mời lên xe ngồi, chúng ta cùng tâm sự!”. Chúng tôi im lặng vì không còn hơi sức đáp lại. Thật may cho mình còn sống để nghe những lời tâm sự rất nghiệp vụ của ông. Đứng hồi lâu thấy chúng tôi không nói năng gì, ông lên xe tiến vào tu viện.

Chúng tôi  đứng trú mưa trong mái hiên của căn nhà  nhỏ bên đường, nhìn về  phía cổng Mây Đầu Núi có  các anh công an mặc thường phục  đang dầm mưa. Các anh cũng vất vã nhọc nhằn để hoàn thành nhiệm vụ. Trong cuộc sống này, hoàn cảnh nào cũng có những khó khăn riêng. Nếu hiểu được “cái riêng” trong lòng người khác, mình sẽ cảm thông và chuyển hóa được phiền giận đang phát khởi.

Gió  lạnh mưa dầm, chúng tôi định vào quán phía bên kia đường mua một hộp bánh ăn lót dạ. Nhưng may sao, một cô gái đi xe gắn máy mang theo nhiều phong bánh chạy tới, cô nói: “Các thầy ăn tạm cho đỡ đói”, xong cô quay xe đi liền như sợ ai đó bắt gặp.  Dáng dấp của cô gái này chúng tôi đã nhiều lần gặp khi cô có mặt tại tu viện. Lần đầu tiên là ngày 29.6.2009, cô là một trong những người tiên phong tấn công và chửi bới các thầy, y phục của cô không được kín đáo cho lắm. Khi tấn công lên thiền đường tăng xá nhìn thấy các thầy đắp y chấp nay niệm Phật, cô là người dang rộng cánh tay để ngăn cản lớp người hung dữ lao lên. Sau đó, có lẽ vì quá mệt nên cô ngồi xuống trước cửa lặng lẽ nhìn các thầy. Chúng tôi không hiểu sự thay đổi đột ngột về cách hành xử này, nhưng sự thật là cô đã khóc. Sáng nay cô có mặt trong y phục kính đáo hiền lành. Cô không tham gia tấn công chửi mắng mà chỉ yên lặng với nét buồn. Khi nhóm người lao vào đánh đập các thầy thì cô chạy vào can thiệp, mọi người kéo cô ra xa và cô là người duy nhất có biểu hiện che chở.

15h30’  huynh đệ tôi tập trung về  xóm Mây Đầu Núi. Các sư  cô chuẩn bị hành lý  xách tay như sắp bị  ai di chuyển đi đâu. Vào tới ni xá, chúng tôi giật mình khi nhìn thấy những căn phòng tan hoang đổ nát như vừa trải qua trận càn quét của quân Nguyên Mông mà lịch sử Việt Nam ghi lại. Dưới bậc thềm, một thanh niên đang ngồi. Tôi nhận ra anh vì sáng nay anh có tham gia lôi kéo chúng tôi. Hỏi anh có mệt không, đói bụng không? Anh trả lời: “ Dạ mệt lắm, đói lắm!”. Chúng tôi đến gặp các sư cô đứng trú mưa dưới mái hiên xin một cái bánh trung thu lên mời anh ăn cho bớt đói, anh không dám nhận nhưng nở nụ cười rất hiền: “Dạ con không sao, để các thầy mang theo đi đường”. Mang theo đi đường? Vậy là tối nay chúng tôi phải rời Bát Nhã thật sao? Đi đâu? Về đâu? Những câu hỏi không thành lời gợi lên trong tâm tư. Chúng tôi ngồi với anh thật lâu, kể những câu chuyện vui vì biết anh đang khổ tâm.

Thầy Pháp Hội cùng một số sư  chú từ xóm Rừng Phương Bối  đi lên Mây Đầu Núi, sau lưng là  nhóm người phụ nữ  bám sát đuổi theo. Họ vừa đi vừa chửi, tay cầm gậy gộc. Các thầy vẫn đi trong trầm tĩnh, yên lặng. Còn vài phút nữa thôi những trận cuồng phong bạo tàn đổ ập lên thân thể huynh đệ tôi.

Nhiều người đàn ông, thanh niên, phụ  nữ đồng loạt ùa vào tổng tiến công. Chúng tôi biết sau trận này họ sẽ thành công với kịch bản công phu dàn dựng. Lúc này mưa lớn lắm! Họ lao vào xô đẩy kéo hành lý quăng ra sân, đuổi các thầy cô ra đứng dưới mưa. Thầy Pháp Hội bị đánh tới tấp, các sư chú vào can ngăn cũng bị đánh xô đẩy. Nhiều sư chú, sư cô bị đẩy rất mạnh nên trợt chân té xấp mặt xuống tầng cấp. Họ đồng thanh la hét: “Chúng mày đi mau, cút xéo! Đây không phải là chùa chúng mày. Sao mà lỳ thế! Đuổi đầu này chạy đầu kia”. Có người chạy ra sân rút cây hàng rào xông vào đánh lùa, có người nắm khăn chít trên đầu các sư cô kéo giật xuống.

Huynh đệ tôi tiếp tục bị hành hạ, nhiều sư  chú bị đập đầu vô  tường, nhiều sư cô bị xô ngã trên cầu thang, thầy Pháp Vinh bị người đàn ông cầm gậy rượt đuổi xô té xuống bờ tường…Họ lùa anh chị em tôi ra hết ngoài sân. Người đàn ông có hình dáng cao to luôn điều động thanh niên, phụ nữ, ông ra đứng trước sân dõng dạt tuyên bố: “ Xin mời anh chị em ra về. Ngày hôm nay chúng ta thành công. Ngày mai chúng ta tiếp tục vào đây”. Họ kéo nhau đi ra cổng tiến ra đường lớn, nơi có chiếc xe Bus đang đậu.

Tưởng rằng sóng gió đi qua, chúng tôi có  ý tưởng trở vào ni xá  thu dọn những gì đổ nát, dù  biết chắc mình không thể  lưu lại nơi này. Tiếng chửi bới ngoài cổng xao lên. Chúng tôi nhìn ra thấy lần này số  lượng người tấn công đông hơn, họ mới nhận quân tiếp viện chăng? Nhóm người đó ùa vào bao vây ni xá, la ó, đưa mắt chăm chăm nhìn vào các sư anh lớn. Lúc này là 16h 05’. Một người đàn ông trong nhóm la lên: “ Thằng Pháp Hội, thằng Pháp Sĩ, thằng Pháp Tụ là ba thằng cầm đầu. Bà con bắt ba thằng đầu xỏ này đi”.

Bấy giờ  họ đồng loạt nhằm vào các sư  anh lớn của chúng tôi mà  truy bắt. Thầy Pháp Sỹ  không trú mưa dưới mái hiên như  chúng tôi, thầy ngồi tựa lưng vào ghế  đá ngoài sân. Nhìn ra, chúng tôi biết sư  anh đang thấm mệt vì đói và lạnh. Tất cả chúng tôi cũng trong tình trạng đó. Nhiều đàn ông xông vào nơi thầy đang ngồi. Biết sư anh mình đang gặp nguy hiểm nên chúng tôi cùng lúc đi ra quay quanh che chắn. Anh chị em tôi đứng gần nhau, vì thế họ xông vào tạt nước dơ lên đầu. Họ lấy nước bùn trong chậu sen tạt lên chúng tôi xối xả. Một thanh niên leo lên tầng một múc nước mưa từ trên dội xuống đầu các sư cô, bên dưới có ngưới cầm cây đánh sư cô Đức Nguyên.

Chúng tôi bị đánh lùi về vườn rau, y áo tay chân nhuộm màu bùn  đất. Huynh đệ dồn lại thành một khối, lần này sư anh lớn đứng vào trong để các sư em nhỏ che chắn bên ngoài. Chiều tối dần về, trên trời cao những đám mây trắng tan biến đâu mất, mây đen cuồn cuộn phía xa.

Người viết: Thích Quảng Kim, Thích Tâm Hỷ, Thích Tâm Lạc.

Phần 5: Bàn tay Bồ Tát

.



Phần 3: Tình Huynh Đệ Bao La

Xã  hội miền bắc Việt Nam vào nửa thế  kỷ 20 giai đoạn 1930 –  1945, xuất hiện một ngôi làng mang tên  “Vũ Đại” (Làng Vũ Đại Ngày Ấy – Nam Cao), nhân vật tiêu biểu  sống trong ngôi làng này là Chí Phèo. Chí Phèo là thanh niên độc thân, mồ côi cha mẹ, không được ăn học, rất khỏe, tuổi khoảng ba mươi, chuyên hành nghề rạch mặt ăn vạ, say sưa chửi mắng phá làng phá xóm. Hạt giống hiền thiện trong tâm của Chí Phèo được nảy mầm sau khi Chí ăn bát cháo hành của cô Thị Nở. Hạt giống tốt vừa mới nảy mầm, nhưng hoàn cảnh xã hội trở thành áp lực nặng nề, biến người lương thiện thành người tàn ác. Đại diện cho thế lực đầy quyền uy cấp địa phương là Bá Kiến, ông ta thao túng và mượn tay Chí Phèo để thực hiện mưu đồ thâm hiểm của mình, nhưng hậu quả ông phải trả là một cái giá rất đắt bởi sự hung bạo của Chí Phèo. Bá Kiến chết thì Chí Phèo phải tự vẫn, để lại một chú Chí Phèo con vừa chào đời cất tiếng khóc oa oa trong lò gạch bỏ hoang.

Đambri là vùng quê nghèo, đất canh tác chỉ trồng được trà và cà phê. Để nâng cao sản lượng, hằng tháng người dân phun thuốc hóa chất độc hại lên những đọt trà, sử dung phân sinh học có mùi tanh khó chịu để bón vào những gốc cà phê. Phần lớn người dân nơi đây làm thuê cho các công ty chế biến trà, tháng năm đắp đổi nên không đủ sống. Bình thường họ đều hiền lành chân chất, nhưng cái đói cái nghèo vẫn là nỗi ám ảnh đeo đuổi trong đời sống, và có khi chính điều đó lại là nguyên nhân căn bản để họ làm những việc mà họ không bao giờ muốn.

Khi nhớ  lại những sự kiện  đau thương để viết ra giấy, trong lòng chúng tôi không oán giận một ai. Những người gây  đau khổ cho chúng tôi, kể  cả các anh công an, với chúng tôi vẫn có mối liên hệ tương quan nào đó, giống liên hệ giữa sen với bùn. Sen được làm từ bùn và bùn là tố chất nuôi sen, sen và bùn tương tức. Vì sao chúng tôi không bạo động, chống trả lại? Có người nhận định đây là một hình thức chống đối tích cực vì không có yếu tố bạo động, có người thì nhận định vì là người tu nên phải vậy. Các nhận định này không sai nhưng không phải là đúng. Không bạo động là cách xử sự thiết yếu và cũng là sự sống tương tức của người xuất gia đệ tử Bụt. Khi không có sự điều hòa trong thân tâm, chúng tôi thực tập từ bi để không đối xử với thân thể mình một cách khinh xuất, thì làm sao đành lòng đánh trả người khác!

Tu Viện Bát Nhã 10h25’ ngày 27.9.2009

Thầy Thích Thông Tánh bị đánh ngất xỉu, các sư  chú bao quanh xoa dầu cho thầy. Sư chú Pháp Nghị cũng bị đánh dập mặt xuống đất đau quá nên khóc rất nhiều. Thầy Pháp Tụ cũng bị lôi ra khỏi phòng B1, họ lấy kính của thầy đang đeo bẻ gấp lại quăng xuống lầu và kéo thầy xuống tầng cấp cầu thang như đang lôi một bao ngũ cốc hay như một con nai mới vừa săn được. Tất cả những sự kiện xảy ra cho Tăng Thân, huynh đệ chúng tôi đều cố gắng ghi nhận bằng hình ảnh làm tang chứng để trình báo lên cơ quan thẩm quyền xác minh can thiệp. Chính quyền địa phương dường như  chưa hiểu được chúng tôi trong việc làm này. Họ nghi ngờ và giận lắm, họ nói rằng chúng tôi quay phim là có ý thức chống đối chính quyền, không cộng tác với người thi hành công vụ. Có lẽ vì thế, hôm nay toàn bộ máy quay phim của chúng tôi bị thanh niên xông vào lục soát, đập nát. Những ổ đĩa cứng vi tính bị lấy cắp, thủy tán. Trong ổ đĩa đó chúng tôi lưu lại pháp thoại của Sư ông Làng Mai. Văn phòng lưu trữ hồ sơ cá nhân và giấy tờ cũng bị đập phá tan tành, số tiền Phật tử khắp nơi cúng dường để dành mua thêm thức ăn cũng bị đoạt lấy.

Họ  lần lượt cưỡng chế các thầy ra tập trung ở giữa sân, rất ít  đồ đạt cá nhân  được mang theo trong túi xách nhỏ. Thầy Minh Sang, thầy Phong Thuấn bị lôi đi nhưng các thầy vẫn trong tư thế kiết già. Huynh đệ tôi ngồi thành vòng tròn, lặng lẽ nhìn nhau xem ai vắng mặt, hỏi han nhau có bị thương tích gì không, có đói bụng không? Ước gì giờ này có một gói mì sống nhai cũng đỡ đói. Một vài sư chú trẻ giữ được nụ cười ngây thơ như không có chuyện gì xảy ra.

Trời mưa nhưng nhiều sư em tôi khát nước. Mưa dội trên đầu chảy xuống mặt, thấm vào miệng mằn mặn. Những chiếc dù chưa kịp che lên đầu liền bị họ giật lại bẻ gảy. Huynh đệ ngồi hơn một giờ, hai bàn chân mọi người đều tê buốt, muốn đứng lên đi nhà vệ sinh cũng thấy ngao ngán vì xung quanh hung dữ quá. Khu vực Tâm Ban Đầu nhiều anh công an sắc phục xuất hiện, công an xã đội mũ C.A.X, dân quân tự vệ mang sắc phục xanh đậm và rất nhiều anh công an mà chúng tôi quen mặt đang thản nhiên quay phim chụp hình.

Những người tấn công, sau khi đuổi hết chúng tôi ra sân  thì họ thay nhau đứng canh chừng. Số còn lại tiếp tục xâm nhập vào các phòng để tìm kiếm, tranh thủ điều gì đó. Điện thoại trong túi áo rung lên nhưng chúng tôi không dám mở nghe, một số điện thoại di động đã bị đập nát nên chúng tôi không thể liên lạc kêu cứu ra bên ngoài.

Một người phụ nữ tuổi khoảng bốn mươi cầm hai cuốn tập từ phía xa đi lại, trang bìa in đậm tựa đề: Tình Yêu - Tình Dục. Họ  chuyền tay nhau lật qua lật lại giả  vờ xem kịch bản, sau đó hét to: “Tu gì mà đọc sách Tình Dục. Tu gì  mà bao cao su vất đầy sau vườn. Tu gì mà thư tình đầy phòng. Về nhà cưới vợ hết đi, không thì mỗi thầy cặp với một cô lấy nhau mà sinh con đẻ cái”. Họ lập đi lập lại nhiều lần. Một người phụ nữ khác nói giọng Quảng Ngãi bước vào nói tiếp: “ Mấy thầy không đi thì coi chừng tôi cho chị em vào bóp d…”. Người đàn ông trạc tuổi năm mươi hùa theo: “ Đừng có ngồi mát mà ăn bát vàng nhé. Chúng tao lao động cơ cực mới có chùa cho chúng mày ở. Chúng mày không mang ơn mà còn làm phản. Chúng mày ăn tiền đế quốc há! Pháp, Mỹ  tao còn đánh bay huống gì chúng mày!”.

Mưa xối xả, thân thể huynh đệ tôi dầm dề  ướt. Từng bong bóng nước chợt hiện chợt tan trên nền ximăng rồi chảy dài xuống mương cuốn theo vài cọng thông khô. Chợt tôi ý thức hơn về  sự vô thường mong manh của một kiếp người. Tôi thấy đau thương cho nhóm người bạo hành này, họ đang bị nóng bức, đau khổ hết sức. Rồi, ai cũng phải chết. Những cơ sở này một trăm năm sau cũng chỉ là di tích để khách hành hương vãng lai. Những con người này, chúng tôi hay công an, vài chục năm sau đều thành bộ xương khô nằm im  trong lòng đất.  Là  thực hay  mơ?

Càng về  trưa số lượng người có  mặt tại Bát Nhã càng thêm  đông. Trong số nhiều thanh niên lạ, tôi không biết rõ người nào là công an. Nhìn thật lâu tôi nhận thấy có vài thanh niên hiện diện trong Tăng xá  với nét mặt rất bình tĩnh, vui vẻ nói cười. Làm sao hiểu được điều gì ẩn chứa sau những tiếng cười ấy? Chiến thắng hay cảm thông? Rất nhiều người đứng từ xa nhìn về phía huynh đệ tôi, họ đến để chứng kiến hay để ngắm nhìn một sự thật đang đi vào lịch sử? Họ im lặng đưa mắt nhìn như đang xem một bộ phim màn ảnh rộng.

Sư  chú nhỏ ngồi trong vòng tròn nói khẽ:  “Thầy, con đói quá ! Thầy có  mang theo bánh không?”. Các sư em tôi đói lắm rồi, có ai biết cho không? Chưa kịp trả lời,  người phụ nữ có nước da ngăm đen trên tay cầm tờ giấy A4 tiếp tục vào mắng nhiếc, Sư ông Làng Mai bị gọi tên nhiều lần với lời lẽ thô thiển chưa từng có trong ngôn ngữ Việt Nam. Chúng tôi đồng chắp tay niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Thế Âm. Cầu mong biển khổ thuyền dong cứu độ người. Tiếng âm vang hải triều vượt thoát mênh mông trên tiếng đời thông tục, vang cao mạnh mẽ. Huynh đệ tôi nhắm mắt, không để ý những gì xảy ra xung quanh. Họ càng tỏ ra giận dữ vì lời thô tục kia chẳng có ai nghe, họ càng chửi giòn giã. Để lấn lướt, một người đàn ông tuổi chừng bốn mươi, hai chân mang ủng đen, đầu đội mũ bảo hiểm, dùng cán dù đập vào mái tôn ầm ầm. Tay ông đập, miệng ông cười, đắc chí, mãn nguyện như sắp nhận được quà. Tiếng đập, tiếng chửi, tiếng niệm Bồ Tát hòa vào nhau, nhưng khối si mê vẫn chưa thể mở mắt. Đông người quá, chúng tôi bị xem như tù nhân giam lỏng giữa ban ngày. Họ tìm cách khống chế các thầy, không cho một ai ra khỏi khu vực, ai đứng dậy đi thì bị lôi vào. Giây phút này, huynh đệ tôi không biết chuyện gì đang xảy ra cho các sư cô tại xóm Mây Đầu Núi. Đến chiều chúng tôi mới hay tin họ bao vây chúng tôi là để cùng lúc dễ dàng đánh phá, tấn công xóm Mây Đầu Núi. Lúc 11h 30’ các sư cô lâm nạn.

12h00’  huynh đệ tôi vẫn ngồi dưới mưa vì  không thể đi đâu được. Nhóm người bạo hành khi hoàn thành nhiệm vụ  đập phá đẩy chúng tôi ra khỏi Tăng xá, sau đó họ gọi nhau đi ăn cơm tại Trai Đường, số còn lại vẫn túc trực canh giữ.

Không gian xung quanh im lặng trong giây lát, một người đàn ông tự xưng là  Chủ Tịch Mặt Trận xã  Đambri tới làm công tác dân vận. Ông vận động các thầy  đề cử người đại diện Tăng thân để theo ông ra xã Đambri làm việc. Ông nói:“Tôi là người đại diện cho Ủy Ban Mặt Trận xã Đambri, tôi theo dõi diễn biến vụ việc từ sáng đến giờ, tôi thấy quần chúng ở đây quá bức xúc các thầy. Không gì mạnh bằng sức mạnh quần chúng. Các thầy nên ra Ủy Ban xã làm việc”. Chúng tôi tự đặt câu hỏi “Người đại diện chính quyền và những hành vi đàn áp truy bức, có liên hệ gì với nhau???”. Ông Chủ Tịch Mặt Trận xã đã không thành công trong luận điệu tuyên truyền khi tiếng niệm Bồ Tát Quan Thế Âm lại vang lên, tiếng la lối lại càng xối xả: “Đuổi chúng nó đi, giao chúng nó cho công an bỏ tù. Cút, chúng mày cút xéo hết đi. Một lũ ngu”.

Người đàn ông có hình dáng cao, đầu đội mũ, tham gia chỉ  đạo nhiệt tình trong việc  đánh đập các thầy. Lần này  ông dùng điện thoại di động gọi Taxi và ông nói  trưa nay chúng tôi đưa “chúng mày về quê”. Từ Bảo Lộc, thường xe Taxi chạy vào tu viện mất ít nhất hai mươi phút. Nhưng lần này chỉ mất gần mười phút thì xe Taxi xuất hiện hàng loạt, thời gian chính xác là 12h16’. Taxi vào đến nơi, hàng trăm người lao xao chuẩn bị cho kịch bản dàn dựng kế tiếp. Một người đàn ông có bàn chân phải khập khểnh bước đến tuyên bố: “ Tôi là Phật tử địa phương, chùa Bát Nhã. Nay tôi đại diện cho toàn thể Phật tử của chùa, đề nghị các thầy lập tức lên xe”. Lên xe là phải ra đi, nhưng đi là đi đâu? Đây là nhà của chúng tôi, đây là quê hương tâm linh của chúng tôi, ngôi nhà được dựng nên bởi hàng triệu tấm lòng khắp nơi…và nay chúng tôi đang bị truy bức phải ra đi khỏi ngôi nhà của mình! Chúng tôi nhìn qua phía dãy nhà khách chợt thấy bóng dáng ông chủ tịch xã Đambri, đứng xung quanh là nhiều công an mặc thường phục. Huynh đệ tôi kiên quyết không lìa khỏi chỗ ngồi, vậy là họ ùa vào lôi kéo bắt bớ. Anh tài xế Taxi cho xe lùi gần sát nơi chúng tôi đang ngồi, mở tất cả cánh cửa xe, họ cùng nhau quăng các thầy như quăng những con vật, xong liền khóa chặt cánh cửa không cho chúng tôi thoát ra ngoài. Họ xông vào lôi hết người này đến người khác, huynh đệ tôi không kháng cự, không phản ứng, chỉ tìm cách ôm giữ anh em của mình để không bị chở đi. Họ càng giận dữ, cường độ hung bạo trong những con người đang bị vô minh che lấp lên đến cao độ, họ nhào vào đánh đập, dùng chân đạp lên ngực, lên bất cứ nơi nào trên thân thể huynh đệ tôi. Trong cơn hỗn loạn, trong cơn đánh đập bạo tàn, một sư chú nằm im bất động . Mưa gió bụi bẩn nhuộm khắp thân hình em tôi, y áo bị xé nát nằm lăn lóc trên sân. Chúng tôi đồng thanh kêu cứu: “Có người chết, có người chết, cứu người!”. Tiếng kêu của các thầy tiếp tục tan vào hư không, gỗ đá cũng động lòng trắc ẩn, nhưng với nhóm người này vốn đã vô cảm nay lại thêm vô cảm. Đâu là tiếng nói lương tri!

Thêm một sư chú nữa bị  đánh chảy máu miệng, chú  bị lôi, bị xóc nách và  bóp cổ. Nhóm người phụ  nữ xông vào bóp bộ  phận kín của các chú. Niềm  đau và tủi nhục bao trùm khắp núi rừng. Thầy Pháp Tụ bị nhóm người phụ nữ và thanh niên tấn công, họ xé rách y của thầy, quăng thầy lên xe như vật dụng hàng hóa. Chúng tôi vẫn không kháng cự, nhiều sư chú đã khóc. Em tôi đã khóc.

Đợt đầu tiên bốn chiếc Taxi lao ra ngoài cổng, anh em của tôi bị đưa đi đâu mà không ai biết trước. Đợt thứ hai bốn chiếc Taxi màu trắng xuất hiện, những người lạ mặt này xông vào bắt thầy Pháp Hội, thầy Pháp Sỹ, thầy Minh Sang, thầy Phong Thuấn, Thầy Pháp Nhàn và một số sư chú khác. Họ cố tâm lôi kéo thầy Pháp Hội và dùng tay bóp cổ thầy. Huynh đệ tôi cố gắng hết sức để dành lại sư anh đang bị họ đánh đập. Bị bóp cổ ngạt thở, phần vì mệt nên thầy Pháp Hội ngất xỉu. Họ quay sang đánh đập và bắt các sư chú lên xe. Xe chuẩn bị lăn bánh, không còn cách nào để giải cứu bảo vệ huynh đệ mình, nên một số thầy và chú lấy thân mình nằm trước bánh xe. Thấy vậy, họ tiếp tục nhào lên đạp vào bụng, vào ngực mặc nhiên đánh đấm. Chúng tôi trở thành những tấm bia bằng xương bằng thịt. Trời đất nghẹn ngào, thế giới chấn động. Dòng suối phía sau lưng vẫn mãi vang tiếng hát:

“Đây Bát Nhã thân yêu, có  những người mang trong trái tim tình thương lớn, mang trong trái tim đại nguyện, nguyện sống bên nhau, xây cõi Tịnh chốn này”.

Người viết: Thích Quảng Kim. Thích Tâm Hỷ, Thích Tâm Lạc.

Phần 4: Gối Nhẹ Mây Đầu Núi.



Phần 2: Ngồi Yên Trong Mưa


Cơn bão số 9 đổ ập vào các tỉnh bắc trung bộ Việt Nam, từ Huế đến Quãng Ngãi bị tàn phá nặng nề, cướp nhiều mạng sống người dân quê. Các ban ngành đoàn thể, các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước đều thương cảm cứu giúp “lá lành đùm lá rách, lá rách đùm lá rách hơn”. Tai nạn do thiên nhiên môi trường gây đau thương cho nhiều người vì mất nhà cửa, tài sản ruộng vườn, mất những người thân yêu vĩnh viễn. Tại vùng cao nguyên này, huynh đệ của tôi gần 400 người cũng bị đoạt mất nơi mà họ đã từng an vui tu học, ngôi nhà tâm linh đầu tiên bị xoáy nát bởi cơn lốc si mê tham vọng, lạm dụng quyền hành. Tài sản của họ không phải là nhà của ruộng vườn. Tài sản của họ là lý tưởng cao đẹp, là ba y và một bình bát. Đơn giản thế, nhưng vẫn bị đoạt mất. Y áo bị xé rách, bình bát khất thực bị đập nát. Ai đã nhẫn tâm tước đoạt  những quyền căn bản nhất của con người?

Hai đêm vừa rồi, sau giờ công phu tối (hai bốn, hai lăm tháng chín), 10h00’ hơn mười anh công an sắc phục lẫn thường phục bất chợt đi vào kiểm tra cư trú, các vị ấy cho rằng các thầy cô cư trú bất hợp pháp vì không còn được chủ hộ bảo lãnh. Các anh lập biên bản tịch thu thẻ căn cước của hai thầy (Pháp Vinh, Pháp Bối) và mời hai thầy ra Ủy Ban Nhân Dân xã Đambri làm việc cho đến xế chiều. Hai thầy về đến tu viện vào lúc 15h, trong tình trạng mệt lã vì đói. Công an thuyết phục hai thầy nên về địa phương và báo tin mai đây Phật tử sẽ tấn công Bát Nhã.

Đêm sau, những căn phòng còn lại tiếp tục bị công an giật cửa dọa nạt: “Các thầy không cộng tác với chúng tôi, ngày mai chúng tôi sẽ có biện pháp mạnh hơn”. Huynh đệ không ai nhắc ai, tự nhiên tập trung ra hết ngoài hiên, đêm tối không nhìn rõ mặt người, chỉ nhận diện nhau qua tiếng nói. Công an xã  lùa các thầy từ hiên trước ra hiên sau, từ lầu một đến lầu ba, và cứ thế quanh quẩn xuống lên như chơi trò cút bắt trong bóng tối. Họ dí các thầy chạy nấp vào bụi chè, nằm áp sát mặt xuống đất, họ quất đèn pin xục xạo tìm kiếm khắp nơi. Một anh công an tức giận chưởi thề: “Đ mẹ, nó có đào đường hầm nên chạy nhanh thế!”, một anh khác thốt lên: “Tu gì như chúng mày, làm mất an ninh trật tự, về nhà cưới vợ quách đi”. Cứ vậy, cứ thế, một lúc sau các anh quay về phía chánh điện trong cơn hậm hực. Thấy vậy, huynh đệ lặng lẽ ai về phòng đó nhưng trong lòng không yên tâm; biết đâu đêm này công an ập vào bất chợt, còn đêm mai đêm mốt và những đêm sau cứ mãi thế này sao?

Xin biết cho, thủ tục đăng ký  tạm trú đã được các thầy cô  thực hiện nhiều lần và  gần nhất là vào những ngày đầu tháng chín, theo lời hướng dẫn của cán bộ phụ trách cư trú. Các cán bộ có hứa chính quyền sẽ tạo điều kiện. Nhưng lời hứa chỉ là giải pháp xoa dịu như người bị đau bụng thì việc đầu tiên là dùng dầu gió xoa lên bụng, nhưng bụng không đau vì gió mà vì ruột thừa.

Tu Viện Bát Nhã 9 h 02’ ngày 27.9.2009

Căn phòng B1 nằm trên tầng hai Tăng xá  xóm Rừng Phương Bối là nơi các thầy Tỳ Kheo thường tiếp khách và trao đổi thời khóa tu học. Tại căn phòng này nhiều sư huynh lớn bị ép buột ra đi vì không được phép cư trú. Bây giờ căn phòng trở thành tiêu điểm đánh phá đầu tiên.

Từ trong phòng nhìn qua khung cửa kính hướng về phía rừng thông, trai đường, hàng loạt người xông tới. Người vội vã cống cuồng, kẻ bịt khẩu trang, mũ bảo hiểm, áo mưa, gậy gộc, xà ben, búa lớn, v.v… giống như một đoàn quân ô tạp xông pha trận chiến. Tầng một, tầng hai, tầng ba vang tiếng chửi bới thô thiển nhất. Những người này là “Phật tử”chùa Bát Nhã thật không? Họ gọi các thầy bằng những danh xưng mà những người cực đoan khủng bố khi nghe thấy cũng chạnh lòng: “Thằng này, con kia…ra đây tao giết chết. Hôm nay chúng mày phải dọn đồ đi, chúng mày không được phép ở đây, thời hạn chúng mày đã hết, hãy mau cút khỏi nơi này vì đây là chùa của sư phụ tao!”.

Trên tầng ba tiếng giật cửa ầm ầm, tiếng loảng xoãng từ  ô cửa kính bung ra, những tấm bồ đoàn tọa cụ từ trong thiền đường bị quăng tới tấp xuống sân.  Bàn ghế rương tủ ngã nghiêng: “ Chúng mày có mở cửa ra không? Tu gì mà lỳ lợm thế, đuổi không đi. Chúng mày đừng để tao phải dùng bạo lực”. Trong mỗi phòng huynh đệ tôi ngồi yên bất động, mặc cho sự tàn bạo vây bủa quanh mình. Một cánh cửa bung ra, hai cánh cửa bung ra, và cứ thế những căn phòng khác trở nên tan hoang… Họ ùa vào hùa nhau đập cửa. Công an đâu, chính quyền đâu, các ngài ở đâu sao không đến?

Huynh đệ tôi bị lùa ra khỏi phòng mà chưa kịp mang theo những gì ngoài tấm y. Có thầy ngồi trong tư thế kiết già chấp tay niệm Phật, họ lao vào xé y và lôi kéo từ tầng ba xuống đến sân. Thân thể thầy bị trầy xướt, tấm y vàng nhuộm màu bùn đất nhưng đôi chân thầy vẫn trong tư thế hoa sen.

“ Thôi! Thầy xin các vị đừng chưởi mắng nữa. Làm vậy không nên. Các vị ra khỏi phòng để thầy có không gian mà thu xếp y áo”. Ẩn chứa trên những gương mặt kham khổ, hóc hác là sự lam lũ nhọc nhằn đáng thương của người dân bị ai đó lợi dụng và kích động. Tuổi của họ đáng là cha mẹ, là anh chị em của các thầy cô. Họ cũng là nạn nhân của hoàn cảnh. Họ giận giữ lắm nhưng nhìn sâu vào khóe mắt, có những người đã khóc. Họ khóc vì đâu?

“Chúng tôi cho các thầy năm phút, các thầy phải rời khỏi Tăng xá này”. Ngoài trời mưa dồn dập. Từng thầy từng chú bị lôi ra ngoài sân. Mưa trút xối xả xuống mái nhà. Từng đôi dép bị quăng ra xa. Huynh đệ co cụm vào nhau thành từng nhóm. Tiếng đập phá mỗi lúc thêm dồn dập. Hàng loạt thanh niên xông lên theo chỉ thị của vài người đàn ông đứng tuổi: “ Hãy xông vào túm lấy nó! Thằng nào không đứng dậy cứ làm thẳng tay. Tụi này là lũ bán nước hại dân, ăn tiền của nước ngoài để chống phá chế độ.” Những người thanh niên lạ mặt xông vào kéo tay, ôm cổ, lôi chân từng thầy một.  Phụ nữ cũng xông vào cùng chung động tác. Và cứ thế, huynh đệ tôi ngồi yên để hứng chịu nhiều trận cuồng phong, thà chết chứ không rời bỏ  chốn này.

Từ trên cao nhìn xuống, một số thầy đã bị lôi ra ngồi giữa sân. Sư anh lớn ngồi rất yên, vững chãi. Trong tư thế hoa sen đôi mắt sư anh khép lại, xung quanh là những sư chú tuổi mới mười lăm, hai mươi cũng ngồi yên như thế. Huynh đệ ngồi rất lâu, mưa ướt đầu ướt áo, ướt thấm y, lạnh và đói lắm. Nhóm người bạo hành kéo xuống bao vây, họ đứng lên trên mái hiên, núp dưới khóm cây để tránh mưa, từng chiếc dù xanh đỏ căng ra, người qua kẻ lại mặc tình chửi mắng. Bên hiên cốc Tùng Xanh là máy quay phim cỡ lớn được đặt đúng vị trí, đang chĩa ống kính quay về phía huynh đệ đang ngồi.

Một số thầy khác còn bị kẹt trong Tăng xá  nên dồn hết vào phòng B1, cửa trước cửa sau bị  tháo gỡ, gió lùa vào lạnh buốt. Đồ đạt sách vỡ  máy móc trong phòng bị gom về một chỗ, họ chế nước vào máy các thiết bị điện tử để hủy hoại. Huynh đệ bên nhau im lặng chấp tay, họ tiếp tục xông vào cửa sau, cửa trước: “Đây là thằng đầu đàn, lôi cổ thằng này ra đánh bỏ mẹ. Chúng mày ra không? Thanh niên đâu vào lôi cổ bọn này đây này. Đồ cướp chùa, bán nước”. Thế là họ nhào vào dùng những bàn chân lao lên ngực, lấy tay tát vào mặt. Đau lắm nhưng đành chịu. Sư em tôi ngồi bên khóc rưng rức, từng tấm y vàng phủ cho nhau để cùng chia sẻ hứng chịu cảm giác đớn đau trong thân thể: “ Các người không có quyền đánh đập anh em tôi, các người không được xúc phạm anh em tôi”. Gỗ đá cũng biết đau nhưng với nhóm người này dường như vô cảm. Và cứ thế họ mặc sức bạo hành không thương tiếc. Niềm đau không tên gọi lần đầu tiên có mặt trong đời. Nhiều kỷ niệm trong mái chùa này không thể nói hết, không thể nhớ hết nhưng cũng không thể quên đi một cách dễ dàng.

Trưa nay huynh đệ tôi không có  một hạt cơm trong bụng. Thân thể đói mềm, run vì thấm nước. Nhà bếp không lên khói mà chỉ toàn sương. Ngồi ngoài mưa nhìn xuống xóm Bếp Lửa Hồng, nhìn về Mây Đầu Núi, không biết các sư em nữ rồi sẽ ra sao? Trưa nay có ăn chút gì không? Nhìn ra công trường Bông Hồng Cài Áo, hai em bé lìa tay mẹ úp mặt xuống đất, lăn lóc trong mưa.

Có  thể ngày nay và mãi về sau Bát Nhã trở thành huyền thoại.

Người viết : Thích Quảng Kim, Thích Tâm Hỷ, Thích Tâm Lạc.

Phần 3: Tình Huynh Đệ Bao La



Phần 1: Tiếng Chim Báo Bão

Con đường đơn độc dẫn đến ngôi chùa nằm sâu trong vùng cao nguyên heo hút, trên cơ thể một đất nước hình chữ S bắt đầu xuất hiện những vết thương. Vết thương hằng sâu hơn một năm mà nạn nhân là những người xuất gia trẻ, có tâm hồn trong sáng, với ước mong thật đơn giản: con chỉ muốn tu thôi!

Ở đây họ bị đánh đập, truy bức, làm nhục, dày xéo bởi nhiều nhóm người mạo xưng là Phật tử và bị ức hiếp bởi những người nhân danh công lý. Sức kham nhẫn chịu đựng của họ kéo dài từng ngày, từng tháng để trong đợi tin lành…Tiếng kêu cứu của họ như tan vào hư không. Đêm tối càng thêm tối. Bóng đêm xuất hiện giữa ban ngày. Ở đây họ bị ngược đãi như tội phạm. Những nhu yếu căn bản để duy trì sự sống của họ cũng bị tước đoạt. Quyền tự do, quyền được tu cũng bị khống chế. Họ như đàn chim non bị chiếm đoạt tổ ấm, đang thống thiết cất tiếng kêu tìm nơi an toàn để trú ngụ trong mưa bão.

Tu viện Bát Nhã ngày 27.9.2009.

Đêm qua mưa gió lớn. Trong những căn phòng tăng xá Rừng Phương Bối có một số huynh đệ còn đang ngủ vì nhiều đêm thức trắng để canh chừng những người lạ mặt tấn công. Rất nhiều đêm trước, sự bình yên trong tu viện bị xáo trộn, nhiều người thanh niên lạ mặt xuất nhập bất thường đập phá thiền đường, lấy mất chuông mõ, tượng Mẹ trong công trường Bông Hồng Cài Áo bị đập nát từng khúc, những tờ rơi đe dọa khủng bố vươn vãi khắp sân chùa ra ngoài cổng. Không những thế, Xóm Bếp Lửa Hồng bị người lạ đột nhập ni xá nhiều lần, lấy hết áo quần không chừa một thứ gì, sáng ra mới biết ai đó đã quăng đầy dưới suối. Đêm khuya hai xóm Bếp Lửa Hồng và Mây Đầu Núi bị ném đá xuyên cửa kính rớt vào phòng làm các sư cô vô vùng lo ngại. Từng đoạn ống dẫn nước xuống xóm Bếp Lửa Hồng bị đập nát, trám xi măng vào bên trong. Chờ đêm xuống, lúc tạm yên, huynh đệ cùng ra nối lại nhưng rồi vẫn tiếp tục bị đập phá.

Mấy tháng rồi, không đèn không điện, đêm tối lại càng thêm tối. Ánh đèn cầy le lói trong đêm khuya không đủ soi rõ để nhận biết những gì hung dữ đang rình rập xung quanh. Ba xóm bị cô lập từ cuối tháng sáu năm này. Phật tử và thân nhân của các huynh đệ từ khắp nơi đến thăm cũng bị chất vấn tra hỏi và đuổi đi. Ngày đến không người ra vào, không có ai quen thân ngoài những anh chị em đang bảo bọc cho nhau và nương nhờ tình thương của chư Tôn Đức gần xa. Đêm về bao nhiêu mối đe dọa rình rập. Ngày ngày loa phóng thanh liên tục phóng to, từng nhóm người lạ mặt luân phiên nhau chửi mắng vu khống và sỉ nhục. Bên bức vách trai đường là những tấm biểu ngữ vu khống ngạo ngược được treo đã lâu mà không chịu tháo gỡ.

Huynh đệ chúng tôi chỉ biết im lặng và cảm thông, không biết nói gì trước tình cảnh ấy. Dù nói thêm điều gì cũng không ai hiểu, không thể hiểu, không chịu hiểu. Tất cả đều bị bưng bít, tất cả đều bị tác động, luân thường đạo lý chỉ nằm trong kinh điển, luật pháp chỉ là giáo điều sách vở, chỉ biết làm theo ma lực uy quyền và mua chuộc.

Ngày này tiếp nối, những bất công không chiều hướng cải thiện mà mỗi lúc thêm dồn dập vây bủa lên thân thể tâm hồn những Tăng ni vô tội. Ngôi chùa Bát Nhã xinh đẹp hiền lành trở nên lạnh lùng vô cảm, những người thanh niên lạ mặt xuất hiện nhiều hơn, họ đi từng đoàn buông lời khiêu khích, quanh quẩn các xóm từ sáng đến chiều.

Mấy tháng qua huynh đệ nhường cơm sẻ áo cho nhau. Phật tử khắp nơi đem vào được chút gì thì ba xóm cùng chia sẻ. Bên hiên ni xá, những tấm nilon căn làm bốn gốc dùng làm bể chứa khi mưa về. Lấy nước mưa làm nước uống, lấy nước suối (nhiễm thuốc phun lá trà, cà phê) làm nước tắm gội. Thiếu nước nhờ người đào giếng cũng bị ngăn cản. Am cốc bị đốt nham nhở giật sập, điêu tàn như cuộc chiến. Bị rượt đuổi, bị người khác cầm hung khí ngang nhiên lao vào chém. Gọi công an, gọi chính quyền, đơn thỉnh nguyện kêu cứu thấu trời nhưng tình trạng cứ thế mà tiếp diễn. Trong khó khăn, tình huynh đệ càng thêm gần gũi thắm thiết, cùng nhau chia sẻ những khó khăn, chịu đựng mọi nhọc nhằn để duy trì khát vọng muốn tu.

Hai ngày trước đây, trong buổi chiều có lễ thiền trà mừng sinh nhật  gia đình xuất gia cây Sen Trắng, các em tôi chuẩn bị cho giờ thiền trà là bánh và nước. Đơn giản nhưng uy nghiêm. Từng cây nến lung linh trong thiền đường Cánh Đại Bàng, từng búp sen trắng mủm mỉm cười. Các em tôi đứng thành hai hàng, chấp tay búp sen lên trên ngực cúi chào từng huynh đệ. Đức Phật ngồi yên qua nhiều thế kỷ, trên môi một nụ cười rất tươi. Bất chợt, nhiều người lạ ập tới, ùa vào chửi mắng dọa nạt. Ngọn nến vẫn lung linh không muốn tắt. Đóa sen trắng vẫn thản nhiên vô tư. Các em tôi không lo sợ nhưng  nhiều người chảy nước mắt. Vì đâu?

Nam Mô  Bồ Tát Quan Thế Âm! Xin ngài  ban cho lòng từ bi ứng hiện. Tiếng la hét dọa nạt, lời mắng nhiếc xua đuổi từ những người hái chè. Chưa thỏa lòng họ rủ nhau vào tăng xá, tiếp tục buông những lời thô thiển không chút lương tâm.

Sáng nay Bát Nhã có điều gì lạ lẫm, trời không nắng, mây và sương mù bủa vây bốn bề. Chập chờn cánh  chim bay trong sương mờ, chợt kêu lên không gian. Tu Viện chìm trong im lặng bất thường nhưng phút giây trở nên xao động ồn ào. Rừng thông yên lặng, thấp thoáng từng đoàn người kéo đến, tiếng máy xe dồn dập gần gần. Người bịt mặt, kẻ đội nón, tay cầm cây và búa từ phía chánh điện đồng loạt xông vào hỗn loạn. Tăng xá Rừng Phương Bối xao xác tang hoang, những cánh cửa chưa kịp khóa đã bị giật mạnh bung ra, người ta xông vào xô đẩy lôi kéo, những căn phòng bị đập nát cửa kính vỡ tung từng mảnh vụn. Huynh đệ tôi cùng ngồi xuống chấp tay, y vàng đắp phủ lên người. Ngoài sân mưa càng nặng hạt.

Người viết

Thích Quảng Kim, Thích Tâm Lạc, Thích Tâm Hỷ

Phần hai: Ngồi Yên Trong Mưa