By DALLOLS payday loans

phapnanbatnha.net

Wednesday
Jun 28th
Text size
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Ý kiến Đường tu Ngẫm và nghĩ cho đạo Phật Việt Nam trong bối cảnh hiện tại và tương lai

Ngẫm và nghĩ cho đạo Phật Việt Nam trong bối cảnh hiện tại và tương lai

Email In PDF.
Gioidan_BichNguyen2CNhìn lại dòng lịch sử Việt Nam, hầu như ai cũng biết đạo Phật có mặt tại Việt Nam rất sớm. Sở dĩ đạo Phật tồn tại ở đất nước Việt Nam trên dưới 2000 năm, vì đạo Phật luôn mang một bức thông điệp yêu chuộng hòa bình, lấy tình thương làm lẽ sống và làm cho xã hội được an lạc và hạnh phúc. Trải qua bao nỗi thăng trầm, vinh nhục của dân tộc, đạo Phật cũng luôn đồng hành cùng những sự kiện ấy. Chính vì lẽ đó mà đạo Phật gắn liền với con người Việt, văn hóa Việt và cùng nhau phát triển cho đến hôm nay.

 

Năm 1975, khi giang sơn thu về một mối. Đạo Phật Việt Nam lúc bấy giờ hoàn toàn bị tê liệt, các cơ sở Phật giáo hầu như được trưng dụng làm kho hợp tác xã, nhà nghỉ cho công nhân hoặc làm trường học. Trong các tự viện thì người xuất gia hàng ngày, hàng đêm ăn không ngon, ngủ không yên vì bị công an kiểm tra hộ khẩu liên tục. Một số vị tu sĩ lớn thì bị gọi đi thanh niên xung phong, các chú điệu (chú tiểu) thì bị đuổi lên, đuổi xuống không được tu học. Nhưng vì tâm bồ đề kiên cố, quyết tâm đi theo lý tưởng tình thương nên các vị ấy dù gặp khó khăn đến đâu cũng quyết chí tu.

 

Quý sư thầy, sư cô thời bấy giờ cũng lo cho tiền đồ Đạo pháp và dân tộc mai sau, nên cũng nhận các điệu (tiểu) vào nuôi, bất chấp bị chính quyền mời lên, mời xuống. Sự việc ấy kéo dài cho đến khoảng năm 1987, điều này hầu như ai cũng biết. Nhất là các bậc lãnh đạo Giáo Hội bây giờ. Ở thời điểm ấy, đi tu còn không được nữa huống chi là mở trường đào tạo Tăng - Ni. Nhưng chính trong những hoàn cảnh khó khăn ấy mà chất lượng Tăng – Ni có tâm đạo rất cao, mặc dù không được đào tạo từ trường này, trường nọ, nhưng tinh thần vô úy, tinh thần tu học và phẩm hạnh đạo đức rất đáng kính phục.

 

Những thế hệ sau năm 1975, họ đâu có mục kích những cảnh ăn khoai, ăn sắn hoặc ăn bo bo, v.v… để sống cho qua ngày, họ cũng đâu thấy được cảnh đứng sắp hàng cầm cuốn sổ mậu dịch trên tay từ 4h khuya để mua được vài cân gạo tồn kho (hôi bao), hay một vài kg muối, v.v… cũng từ những năm tháng ấy, các tầng lớp nhân sĩ trí thức ngoài xã hội cũng như trong Phật giáo bị sống bên lề xã hội. Có thể nói, những năm tháng ấy là huyền thoại dân tộc Việt Nam đã quay trở lại như thời kỳ mới dựng nước. Một số đi lên rừng (kinh tế mới), một số đi xuống biển để tìm ánh sáng của lẽ sống tự do. Cho đến nỗi có những nhà văn phải ngỡ ngàng cho bối cảnh thời bấy giờ nên đã thốt lên :

 

Trinh nữ trầm oan nổi giữa dòng

Thân băng ngàn hải lý về sông

Xung quanh không một người than khóc

Chỉ cá trùng dương theo hộ tang.

(Viên Linh , thủy mộ quan)

Hay :

Quê người trên đỉnh trường sơn

Cho ta gởi một nỗi hờn thiên thu.

(Tuệ Sỹ)

 

Nói ra đây không phải để khơi dậy hận thù, bởi vì thù hận thì cũng sẽ xóa được. Nhưng, những nổi trầm oan của dân tộc, giữa người sống và người chết có chung nỗi niềm. Giữa thế hệ trước và thế hệ sau có cái truyền thông cho nhau để hiểu mỗi một hoàn cảnh trung thực, chân chính hơn. Vì mới hơn 30 năm thôi, bây giờ đem những chuyện ấy ra kể cho thế hệ sanh sau năm 1975 họ cho đó là chuyện cổ tích, kể cả tu sĩ lẫn người đời.

 

Mãi đến năm 1981 Giáo hội được chính thức hoạt động, là thành viên “Mặt trận tổ quốc Việt Nam”, lấy phương châm : “Đạo Pháp Dân Tộc Chủ Nghĩa Xã Hội”. Cũng vì danh vọng và địa vị, nên các bậc lãnh đạo TWGH và lãnh đạo Giáo Hội các tỉnh thành đã hiến dâng các cở sở vật chất như các trường Bồ Đề, các Cô Nhi Viện v.v… cho nhà nước. Năm 1987 thì trường Cao cấp Phật học được ra đời. Rồi lần lược các trường Trung cấp, Cao đẳng v.v… cũng được thành lập ở các tỉnh, thành. Giáo hội tự hào đây là một trang sử mới cho PGVN trong công cuộc đào tạo nhân tài. Nhưng sự thật đây là nỗi đau cho Phật giáo nước nhà.

 

Giáo hội chưa xây dựng được những Tăng xá, Ni xá cho Tăng – Ni nội trú để chuyên tâm tu học (vì các cơ sở của phật giáo đã hiến dâng hết rồi), Giáo hội đã không lo được đời sống cho Tăng – Ni, mà lại còn thu tiền học phí nơi Tăng – Ni. Đây là một điều thật đáng buồn, và là vấn nạn lớn cho PGVN. Đây là khe hở, là lỗ hổng khiến cho Tăng – Ni không có cơ hội sống “Lục Hòa Cộng Trụ” với nhau, không có cơ hội trau dồi, nâng cao giới đức, phẩm hạnh của một người xuất gia.

 

Đáng buồn hơn nữa, ngay TWGH cũng chạy theo trần cảnh, thế tục. Đào tạo Tăng – Ni cũng chạy theo bằng cấp chứ chưa thật tu. Các vị lãnh đạo TWGH chức tước càng cao thì chùa càng to, phật càng lớn. Có ai mà đóng góp xây dựng nơi ăn chốn ở cho Tăng – Ni nội trú để yên tâm tu học chưa? Giáo Hội bảo không có ngân sách ư ? vậy xin hỏi: bao nhiêu cơ sở tôn giáo các ngài đã hiến hết rồi ? các ngài có dám đứng ra vận động quần chúng Phật tử, nhân hào trí thức ủng hộ để lấy lại những cơ sở đó không ? để xây dựng tăng xá, ni xá cho Tăng – Ni ở nội trú vừa tu, vừa học chưa ? sự thật, các ngài cũng lợi dụng chức quyền mình sẵn có để kêu gọi và gom góp cho riêng mình mà thôi. Chùa to, Phật lớn thì chưa nói lên sự phát triển của Phật Giáo nước nhà, mà sự tu tập tinh chuyên của hàng ngũ Tăng – Ni mới nói lên được điều đó. Tăng – Ni phải biết sống “Lục Hòa Cộng Trụ”, lấy giới luật làm thầy v.v… những điều đó mới nói lên được sự hưng thịnh và thăng hoa của Phật Giáo nước nhà. TWGH, các Ngài có xây dựng được tăng xá hoặc ni xá có sức chứa 400 – 500 người cùng chung sống với nhau để thực hành nếp sống “lục hòa đồng trú” vừa tu, vừa học chưa? Làng Mai đã làm được điều đó, Tăng – Ni tại Tu Viện Bát Nhã đã sống theo tinh thần vô sản và “Lục Hòa Cộng Trụ” của Phật giáo. Điều này các Ngài nên học hỏi và xây dựng mô hình như vậy mới đúng chứ, đằng này vì lòng ganh tỵ, hoặc vì danh lợi, mà các Ngài đã đi đến một quyết định hết sức là ấu trĩ là muốn xóa đi mô hình “Lục Hòa Cộng Trụ” mà Tăng thân Làng Mai đang tu học tại tu viện Bát Nhã.

PSN - 31.07.2009 | Dòng Suối Nhỏ